« May 2012 »
Su Mo Tu We Th Fr Sa
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    

Những thoáng vui còn lại - P/s ảnh VVL

Album ảnh Trackbacks (0) góp ý (2)   

Tháng 5 rộn rã riêng chung và mình hòa vào con sóng niềm vui ấy.  Vào Hải Lăng dự cưới con nhà giáo Nguyễn Trung Văn và sau đó gặp gỡ bạn xưa trường cũ; tối 1/5 đưa bé Trang Phúc đi xem bắn pháo hoa và Chương trình nghệ thuật đặc biệt tại sân vận động thành phố; 2/5 cùng nhóm tu mi nam tử về bãi tắm Cửa Việt xả stress...

1

alt

alt

alt

alt

alt


 

alt

2

 

alt

 

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

3

alt

alt


alt


Hoa Bất Tử - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   

  Hoa Bất Tử

 alt

Đã làm hoa. Thêm làm gì bất tử

Gì đẹp hơn Tiên. Nhưng vẫn yêu người

Như chiếc lá sắc không yêu ngày bão tố

Trong đau thương bất tử những hoa đời

 

                                      vovanluyen

 

Giấc mơ ngọn khói - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) góp ý (2)   

Giấc mơ ngọn khói

 alt

Những ngọn khói đặc quánh không gian bụi chì

Đấy là lúc chảo lửa khuôn đúc gan vàng dạ sắt/ mắt thiên thanh chỉ đường bay ý nghĩ cháy bùng thanh âm rạn vỡ.

Những lá non chưa kịp xanh/những giọt sương chưa kịp sinh thành/những giấc mơ chưa đi hết cái chợp mắt giữa hai trận đánh/những điếu thuốc chưa đỏ nỗi niềm chia nhau ấm lạnh/những viên đạn lạnh lùng cắm vào tờ thư...

 

Những ngọn khói chơi trò biến hình con trẻ

Khái niệm thời gian vuột qua kẻ tay/lá cỏ lả mềm con dế tắt tiếng gọi tuổi thơ bờ bãi/đêm di trú lời nguyện lên các vì sao/đêm huyền tích đế vương sông chảy bèo bọt u mê bóng tối/đêm ngân hạnh thả khói phấn tạc dáng hài thú tội/đêm ngạ quỷ hiện hình súc sinh máu lạnh/đêm tiền sử hú gọi tình yêu mọc cánh/đêm thánh hoá tuổi thanh xuân dữ dội...

 

Những ngọn khói

đêm tàn

mang mang Thành Cổ

lửa hương ngời lên sắc đỏ

Đồng đội ơi, có về.

 

                                      Trại sáng tác thị xã Quảng Trị, 3/2007

 

                                                          Võ Văn Luyến

CẬP ẢNH KỶ NIỆM 15 NĂM TRƯỜNG CĐSP QUẢNG TRỊ (

Album ảnh Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

CẬP ẢNH KỶ NIỆM 15 NĂM TRƯỜNG CĐSP QUẢNG TRỊ  (TIẾP THEO)

2. LỄ KỶ NIỆM VÀ BUỔI TIỆC

alt

Hàng trước: Nhà thư pháp Hoàng Tấn Trung - Nhà giáo Nguyễn Tuận

Hàng sau: Nhà giáo Võ Văn Hoa - Nhà giáo Đỗ Trung Văn

alt

alt

alt

Nhà giáo Ưu tú Hoàng Minh Long (bên trái) và Nhà giáo Thảo Nguyên

alt

 

alt

 

alt

 

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

 

alt

alt

 

alt

alt

 

 

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

CẬP ẢNH KỶ NIỆM 15 NĂM

Album ảnh Trackbacks (0) Thêm góp ý   

CẬP ẢNH KỶ NIỆM 15 NĂM THÀNH LẬP TRƯỜNG CĐSP QUẢNG TRỊ

1. HỘI THẢO KHOA HỌC: Hơn 22 đoàn của các trường cao đẳng, đại học trong nước tham dự. Trước Hội thảo, BTC đã nhận gần 100 bài báo và tham luận khoa học của các tác giả từ trên 82 cơ sở đào tạo đại học cao đẳng gửi đến. Nhà trường đã phối hợp với Tạp chí Giáo dục xuất bản số đặc biệt. Mình phụ trách NCKH nên lo việc biên tập (cùng với thành viên HĐ), chọn in 47 bài và sau đó tổ chức HT sáng ngày 13/4/2012 thành công. Nhân chủ blog thở phào nhẹ nhỏm.

 

alt

Lưu ảnh cùng TS Bùi Quang Tuyến (ĐHPX)

alt

 Giữa buổi Hội thảo

alt

Đón tiếp Đại biểu

alt

 alt

 VVL - Em Hà (Thư viện)

alt

alt

Với NGƯT Phạm Hồng  Quang - PGS.TS. Hiệu trưởng ĐH Thái Nguyên

alt

Trước giờ chia tay

alt

 

altalt

 

alt

 

alt

                                                     (còn nữa)

Thơ tặng bạn xa quê - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Thơ tặng bạn xa quê

                            Tặng Phan Chiến

 alt

Bạn tôi người Diễn Châu

Đêm không ngủ nhớ quê rơi nước mắt

Lúc buồn vui ôm đàn ngồi hát

Âm trầm như xa xôi vọng về

 

Nhìn con tàu đội mưa nắng ngoài kia

Mắt chờ mong bàn tay ai vẫy gọi

Tiễn vạn ngày qua, đón trăm đêm tới

Lòng lăn theo bánh sắt hướng quê nhà

 

Vây quanh mình ấm áp giấc mơ

Câu hát bật mầm bồi hồi mắt chớp

Gió mặn đắng cánh buồm đau ván lướt

Sóng yêu thương gối cát những linh hồn

Bạn làm cây xanh lại hoàng hôn

Làm mây trắng ruổi rong mái phố

Làm nụ cười cắt u tình vạn cổ

Làm nồng say ủ giữa nhân gian



Ngày không thôi giá rét làm xuân

Cái nhớ co ro, tuổi về thơ dại

Cỏ non nhắc kỷ niệm bờ bãi

Một xa xôi. Một gần gũi. Một người...

 

                             05/4/2012

                         Võ Văn Luyến

 

 

 

 

Tháng Tư nhớ Trịnh

Báo chí Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Trần Đăng Khoa:

Tháng Tư rồi, nhớ Trịnh Công Sơn

 

(VOV) - Có lẽ cho đến tận lúc giã biệt cõi đời này, nhạc sĩ cũng không biết anh có một khán giả ngoại quốc say anh cuồng nhiệt hơn bất cứ người hâm mộ nào.

Cách đây cũng khá lâu rồi, có phóng viên hỏi tôi: Việt Nam có cần ngày Mồng Một Tháng Tư không? Tôi có nói vui rằng, ngày Mồng Một Tháng Tư là ngày nói dối. Suốt bảy năm sống ở nước ngoài, ngày ấy năm nào tôi cũng bị lừa, dù mình đã có ý thức đề phòng mà vẫn không thể tránh nổi. Ta chả nên “nhập khẩu” ngày nói dối làm gì. Nếu ta có ngày Mồng Một Tháng Tư thì cũng nên chuyển sang thành ngày Nói Thật. Đối với tôi, ngày Mồng Một Tháng Tư là ngày đau buồn. Đau buồn một cách nghiêm túc. Vì đó là ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ có nhiều người hâm mộ nhất. Đi đến đâu, tôi cũng thấy người ta hát ca khúc của anh. Nhạc Trịnh không chỉ ngự trị khắp mọi xó xỉnh của xứ Việt này mà còn len lỏi đến tận những ngóc ngách sâu thẳm nhất trong cõi tinh thần của người Việt ở Hải ngoại. Dường như ở đâu, Trịnh Công Sơn cũng có người yêu mến. Nhưng có lẽ cho đến tận lúc giã biệt cõi đời này, nhạc sĩ cũng không biết anh có một khán giả ngoại quốc còn say anh cuồng nhiệt hơn bất cứ người hâm mộ nào. Đó là vị Giáo sư trẻ người Đức Frank Gerke.

Tôi biết Frank Gerke cũng rất tình cờ. Dịp tôi qua Đức, anh là người phiên dịch cho tôi. Theo sự bố trí của bạn, Frank Gerke sẽ cùng tôi đến thăm một số thành phố. Còn một tuần đầu, người dịch cho tôi là chị Grit Seidel, một cô gái trẻ, là nữ phiên dịch tiếng Nga ở Bộ ngoại giao Đức. Grit Seidel nói tiếng Nga như một người Nga. Chúng tôi đến thăm nhà Gớt, thăm Trung tâm xuất bản sách báo Frank Fuork, rồi gặp gỡ các Tổng biên tập của mấy tờ báo tư nhân. Buổi chiều cuối cùng ở thành phố này, chúng tôi xem phim rồi Grit Seidel bàn giao công việc cho Frank Gerke.

Theo đúng lịch trình, 5 giờ chiều, tôi và Frank Gerke lên tầu đi Weima. Nhưng 4 giờ vẫn chưa liên lạc được với F. Gerke. Grit Seidel bắt đầu thấy lo lắng: "Tôi đã điện cho Trung tâm báo chí, rồi điện về Trường Đại học Bonn. Chẳng ai biết F. Gerke ở đâu cả. Hay anh ấy bị tai nạn rồi...".

Người Đức làm việc rất chuẩn xác. Nếu đã nỡ hẹn mà không báo lại thì chỉ có bị tai nạn. F. Gerke không hề lỡ hẹn. Anh đã chờ chúng tôi từ 3 rưỡi chiều ở khách sạn. Đó là một người đàn ông cao lớn, trắng trẻo, tóc đen mướt, vai đeo chiếc ba lô to xù. Tay lại xách theo cây đàn ghi ta. Trên ngực áo đen là mảnh băng đen. Mảnh băng khâu thẳng vào áo. Hoá ra nhà anh mới có tang. Tôi muốn nói với anh mấy lời chia buồn...

- Tôi để tang anh Sơn đấy. Tôi là em của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn!

F. Gerke bắt đầu câu chuyện bằng một giọng trầm trầm. Tôi kinh ngạc khi thấy anh nói tiếng Việt rất chuẩn, lại kinh ngạc hơn khi biết Trịnh Công Sơn có người nhà ở bên này...

- Không, anh Sơn chẳng có họ hàng gì với tôi cả. Anh ấy không chắc đã nhớ được tôi. Nhưng tôi thì rất yêu anh ấy và lúc nào cũng nhớ anh ấy...

Con tầu đã rời ga Frank Four từ lúc nào rồi. Bồng bềnh hai bên cửa sổ là những ngôi nhà và những v­ườn cây, những cánh đồng lúa mì xanh ngăn ngắt. Thiên nhiên Đức đang tự vẽ ra những bức tranh tuyệt vời của Lêvitan. Nhưng Frank Gerke dường nh­ư không quan tâm lắm đến phong cảnh thiên nhiên trải ra suốt hai bên cửa sổ toa tàu.  

- Khi đ­ược tin anh Sơn mất, tôi đang dạy Lịch sử Việt Nam ở tr­ường Đại học Bonn. Vợ tôi báo cho tôi qua điện thoại. Nhưng tôi không tin. Vì đó là Ngày Cá Tháng Tư. Ai tin được cái điều vô lý như thế? Tôi điện về Việt Nam. Hoá ra anh Sơn đi thật. Thế là tôi bỏ dạy, về nhà. Tôi ốm lơ ốm lửng một tuần liền. Người sút đến ba ký...

- Rất cám ơn anh đã hết lòng yêu mến một nhạc sĩ tài năng của chúng tôi. Tôi cũng yêu nhạc Trịnh Công Sơn lắm. Nhưng rất tiếc là chưa có dịp nào được tiếp xúc với anh ấy...

- Thế thì đó là một thiệt thòi của anh - F. Gerke khẳng định - Khi biết anh sang đây, tôi định điện cho ông Nguyễn Quang Sáng, hỏi xem anh là một người như thế nào. Nhưng rồi thôi. Tôi muốn tự tìm hiểu, khám phá. Anh yêu nhạc Trịnh Công Sơn, như thế có nghĩa anh là người tử tế...

F. Gerke lại cười. Còn tôi thì kinh ngạc. Tôi chưa thấy ai lại mang nhạc Trịnh ra làm thước đo, đánh giá phẩm chất đức độ con người.

- Anh gặp ông Sơn trong tr­ường hợp nào?

- Lâu rồi. Khi ấy, tôi còn ở Tây Nguyên, làm phiên dịch cho một công ty Cà phê của Đức đặt văn phòng ở Ban mê thuột. Tôi nghe nhạc anh Sơn và thấy mê. Nhạc anh Sơn rất đặc biệt. Anh có để ý không? Bài nào cũng chỉ phất phơ có mấy nét thôi, cứ như là nhạc của trẻ con ấy. Nhưng nghe là nhớ ngay. Trịnh Công Sơn đã đạt được đến độ cao nhất của nghệ thuật. Đó là sự giản dị. Tôi yêu nhạc anh Sơn, rồi tìm đến thăm anh ấy. Thế rồi anh em biết nhau. Đơn giản thế thôi mà...

Nói rồi, F. Gerke ôm đàn hát. Anh hát hay lạ lùng. Đến nỗi, tôi cứ tưởng là Trịnh Công Sơn đang hát.

- Tôi có cái băng của Trịnh Công Sơn. Chính anh Sơn đã dạy tôi hát đấy. Tôi hát theo băng mà - F. Gerke nói - Anh bảo chỉ có Khánh Ly hát mới ra Trịnh Công Sơn ư? Anh nhầm đấy. Người hát hay nhất nhạc Trịnh chính là Trịnh Công Sơn. Sau Trịnh mới đến Khánh Ly. Sau Khánh Ly là không còn ai nữa. Hồng Nhung chỉ hát tàm tạm được một đôi bài. Còn các ca sĩ khác thì không thể chấp nhận được. Trịnh Công Sơn có một chùm ca khúc viết tặng Hồng Nhung. Nhưng ngay chính chùm ca khúc giành cho riêng mình ấy, Hồng Nhung hát vẫn không bằng được Khánh Ly. Thế mới đau chứ. Còn Thanh Lam thì... vứt. Dù Giọng Thanh Lam rất tuyệt. Có thể nói đó là giọng hay nhất của Việt Nam. Nhưng cô ấy hay hú hét lắm. Mang Trịnh Công Sơn ra hú là giết anh ấy rồi...

Frank Gerke quay ra cửa sổ. Nhưng hình như anh chẳng còn nhìn thấy gì.

- Trịnh Công Sơn là một nửa âm nhạc Việt Nam. Mặc dù nhạc Cách mạng của các anh rất hay. Hầu nh­ư bài nào cũng hay. Khoẻ khoắn, hùng tráng. Nhưng đó là nhạc hội hè, nhạc vui. Nhạc cho tất cả mọi người. Hầu hết nhạc sĩ các anh đều viết cho đám đông. Người ta hát khi vui, hát ở chỗ đông người. Còn nhạc anh Sơn là nhạc chỉ dành cho một người. Khi nào buồn, khi nào cô đơn đến tuyệt vọng mà không còn biết bấu víu vào đâu nữa, ngư­ời ta tìm về với Trịnh. Trịnh sẽ đón họ, nâng đỡ an ủi họ. Vì thế, tôi mới bảo Trịnh Công Sơn là một nửa âm nhạc Việt Nam. Nếu chỉ có Trịnh Công Sơn thì âm nhạc Việt Nam cũng có gì như còn méo mó và ốm yếu. Nhưng nếu chỉ có âm nhạc hùng tráng mà thiếu Trịnh Công Sơn thì nền âm nhạc các anh vẫn không thể gọi là hoàn thiện được, vì nó vẫn thiếu một mảng rất cần thiết cho đời sống riêng tư của mỗi con ng­ười. Nhạc Trịnh hay lắm. Hay một cách thấm thía. Lời ca của anh ấy rất đẹp. Đẹp như thơ...

- Còn hơn thơ ấy chứ - Tôi góp thêm - Thậm chí có những lời ca của anh ấy, bọn thi sĩ chúng tôi không viết nổi đâu...

Nhưng cũng không nên vì thế mà lại bảo anh ấy là một nhà thơ lớn. Không biết ông nào nói như thế nhỉ? Hình như anh à? Anh hay ai nhỉ? Nói thế là nói liều đấy. Ca từ của Trịnh chỉ đẹp khi nó nằm trong giai điệu của Trịnh thôi, tách ra khỏi nhạc Trịnh, để nó đứng độc lập như một bài thơ thì nó đâu có phải thơ. Trịnh Công Sơn có làm thơ đâu. Anh ấy viết nhạc đấy chứ. Tôi rất yêu nhạc Trịnh. Yêu như một tín đồ của anh ấy. Nhưng cũng phải thành thật mà nói rằng, nhạc Trịnh nghe lẻ từng bài thì  hay. Nhưng nghe cả một cuộn băng thì lại thấy mệt vì đơn điệu. Ông Văn Cao của các anh đa dạng hơn nhiều, phong phú hơn nhiều, mặc dù so với Trịnh Công Sơn, ông  ấy viết rất ít...

F. Gerke đã thực sự hiện nguyên hình một con ma xó. Anh ứng tác thơ lục bát bằng tiếng Việt. Rồi anh hát chèo, hát dân ca Quan họ và ca cải lương, ca bài chòi. Thật khó mà hình dung F. Gerke lại là một người Đức. Nếu cứ nhắm mắt nghe anh nói thì ta có thể lầm tưởng mình đang nhậu với một anh Hai, anh Ba nào đó của Sài Gòn...

- Anh biết tôi học tiếng Việt ở đâu không?  F. Gerke hỏi - Học ở quán Mộc Tồn đấy. Cánh bợm nhậu dạy tôi. Rồi tôi nói tùm lum tà la. Nhà thơ Lữ Huy Nguyên tặng tôi một bài thơ rất ấn tượng: Cái thằng cha Tây Kều/ Nó như con ma xó? Học tiếng Việt ở đâu? Học tại quán Thịt chó...

Hôm cuối cùng tôi ở nước Đức, bạn bè người Việt ở Nhà văn hoá Việt Nam tổ chức cuộc chia tay bằng một bũa thịt dê. Thịt dê "đánh" từ Việt Nam sang. Tưng bừng chả kém gì Hà Nội. Trong men rượu ngà ngà, Frank Gerke đề nghị mỗi người góp một câu thơ theo giọng Bút Tre để "Chào mừng nhà thơ Trần Đăng Khoa" rồi anh hào hứng mở đầu:

- Yêu nhau, góp tí máu dê - Mừng anh Văn Khoả từ quê sang đầy... Văn Khoả nghĩa là Trần Đăng Khoa đấy...

Thế rồi Phạm Kỳ Đăng, Nguyễn Văn Thọ, vợ chồng Tôn Nữ Nguyệt Minh, Trương Hồng Quang..., nói như F. Gerke, mỗi người góp một tí "máu dê", thành một bài thơ khá dài, rồi F. Gerke kết thúc:

- Ra về hãy nhớ lời thề - Yêu nhau cứ phải thịt dê tương gừng -Em phừng phừng, tớ phừng phừng - Bố thằng nào giám lẫy lừng vào đây...- F. Gerke cười khục khục - Tôi cứ kết hợp cụ Đồ Chiểu với thi sĩ Nguyễn Duy ông anh tôi cho có tính dân tộc.

Lúc tiễn tôi ra sân bay về nước, F. Gerke nhờ tôi chuyển lời thăm của anh tới nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhà thơ Nguyễn Duy và nhạc sĩ Bảo Phúc. Rồi anh đọc câu thơ của thi sĩ  Bùi Giáng mà anh rất khoái:  "Sài Gòn Chợ Lớn dong chơi - Đi lên đi xuống đã đời du côn". Anh thấy tôi có "du côn" không, anh Khoa? - F. Gerke quay lại hỏi tôi bằng một giọng đặc sệt Sài Gòn - Anh Sơn bảo ở trong tôi có đến 99% là dòng máu Việt, còn Đức chỉ có 1% thôi. Tôi thì ngờ, hình như trong tôi không có đủ 1% dòng máu Đức - F. Gerke cười hô hố - Tôi sẽ phấn đấu trở thành Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Về già, tôi sẽ đưa vợ con sang Việt Nam ở. Chúng tôi sẽ mua một căn nhà lá nào đó ở một miệt vườn, rồi làm một ông già Nam Bộ. Thật đấy: "Qua ngẫm chán, sống nghĩa là xả láng - Ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu - Nhà lá bung biêng che lá dừa lá mía - Nón lá qua loa nhưng nhậu phải đều đều...".

Trần Đăng Khoa

http://www.baomoi.com/Home/AmNhac/vov.vn/Tran-Dang-Khoa-Thang-Tu-roi-nho-Trinh-Cong-Son/8183125.epi

 

 

 

Âm nhạc Trịnh Công Sơn với những tâm hồn đồng điệu

Báo chí Trackbacks (0) Thêm góp ý   

12h45 ngày 1 tháng 4 năm 2001 (tức ngày 8 tháng 3 năm Tân Tỵ), Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trút hơi thở cuối cùng. Cái tin “sét đánh ngang” ấy tạo cơn dư chấn vô hồi với hàng triệu người hâm mộ ông, yêu âm nhạc của ông ở trong nước và nước ngoài. Ngay tối hôm đó, tại tư gia, Nhà thư pháp Hoàng Tấn Trung cùng bè bạn trên đất Cổ thành, TX Quảng Trị tổ chức tưởng niệm “NGƯỜI CA THƠ” rời cõi tạm. Và những năm sau đó, cứ vào buổi này, anh em ở Quảng Trị luôn nhớ ông bằng đêm hát nhạc Trịnh,  đăng đàn thuyết trình về Trịnh, có khi lôi cuốn hàng ngàn người tham dự như: Đặc sắc ca từ TCS, “Để người về hát đêm hồng”, “Ru đời đi nhé”,...Nén tâm hương tưởng tiếc Ông, xin trích đăng lại lời đề dẫn cách đây đã 7 năm, trong một lần sinh hoạt như thế.

Âm nhạc Trịnh Công Sơn

với những tâm hồn đồng điệu

 alt

Nếu không có ngày Mẹ Âu Cơ mang nỗi đau "vượt cạn" sinh thành dân tộc để mai sau cháu con làm nên huy hoàng nước Việt?

Nếu không có ngày 30 tháng 4?

Và nếu không có những tâm hồn yêu quê hương xứ sở đến quặn lòng như Trịnh Công Sơn làm sao có được "khối tình lớn" từ một tâm hồn tìm tới những tâm hồn đồng điệu? Thay cho câu trả lời ý nghĩa đó, CLB Bạn đọc trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị đã dựng chương trình về Cố Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhân kỉ niệm 4 năm (01/04/2001 - 01/04/2005) ngày mất của ông. Chương trình được thiết kế lồng ghép khá qui mô, hoành tráng. Sau bản lược trình tình hình hoạt động của CLB là nội dung diễn thuyết về Đặc sắc ca từ Trịnh Công Sơn của Nhà báo Nguyễn Hoàn với sự minh hoạ những tình khúc bất tử của Trịnh qua các giọng hát truyền cảm và triển lãm thư pháp của Nhà thư pháp Hoàng Tấn Trung. Điều đáng ghi nhận ở buổi sinh hoạt văn hoá này là đã lôi cuốn được nhiều khán thính giả trong - ngoài trường tham dự và để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp. Nhà giáo Lê Thị Xuân Liên - Hiệu trưởng nhà trường nhận xét:

- CLB Bạn đọc hoạt động ngày càng khởi sắc, có chiều sâu, tránh được hình thức chung chung khô khan. Có thể nói từ Trịnh Công Sơn, từ "chân trời một người đến chân trời của tất cả"; cách làm sử chân dung, sử tâm hồn như thế là tốt. Đường đi và đích đến phải nên như thế.

 

 alt

                         Thư pháp Hoàng Tấn Trung

Ca khúc của Trịnh Công Sơn qua những tiếng hát “chị em của Khánh Ly” đã nén không gian Nhà Đa chức năng đông chật. Sự đông chật hoà điệu những tâm hồn mang khát vọng yêu thương và chia sẻ. Mỗi người như được thấy bóng dáng mình trong những ca khúc về tình yêu, quê hương và thân phận. Hợp âm chủ Mi thứ (Em) với điệu slow đầy tâm trạng cùng sự dụ dẫn mê hoặc của ca từ đã tạo ra sức mạnh cảm xúc lan toả khó quên. Có thể ví Trịnh Công Sơn là người có phép biến ảo chữ nghĩa trong âm nhạc một cách tài tình. "Chữ bầu nhà thơ" (Lê Đạt), câu nói ấy vận vào Trịnh Công Sơn thật đúng, bởi ông là người hiếm hoi trên đời này biết "ca thơ" (chữ của Văn Cao) bằng sự gào thét vô thanh của trái tim chan chứa tình yêu con người, tình yêu cuộc sống. Tình yêu ấy đặc biệt hơn ở chỗ khi thân phận con người mong manh tơ trời trước cơn gió dữ chiến tranh.

Như lẽ tự nhiên, những ai đã từng nghe nhạc Trịnh, hát nhạc Trịnh rồi sẽ tự ru mình trong nỗi buồn kiếp người - một nỗi buồn cứu rỗi tâm linh và đưa tới những bến giác thức tỉnh tình yêu con người dù đường trần muôn nẻo lô xô và không thiếu cạm bẫy. Đừng nhầm tưởng Trịnh Công Sơn đang gieo dòng "não ca", vì bản thân thời cuộc bấy giờ chất đầy những âu lo và bi kịch. Đúng ra, Trịnh đã dựng đài tháp "bi kịch lạc quan". Điều đó có nghĩa ông nhìn thẳng vào đau thương để thắp sáng ngọn nến nguyện cầu hoà bình và nhen lên khát vọng cho một tương lai nước nhà xanh tươi, tốt đẹp. Có người cho rằng, “hát nhạc Trịnh không phải dựa vào kỹ thuật thanh nhạc hay chất giọng thiên phú mà phải đánh thức được những run rẩy kiếp người đi sóng đôi với ca từ bàng bạc nỗi niềm của tác giả”. Từ sự đồng điệu ấy, chúng ta có quyền hy vọng về những đêm nhạc Trịnh nối tiếp đến hẹn xuân thu nhị kỳ như khúc luân vũ của thời gian...

                                                01/4/2005

                                            Võ Văn Luyến

Web Trường CĐSp. Quảng Trị & Web TCS.home.org

Lời ngỏ

Báo chí Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Lời ngỏ

(Đặc san kỷ niệm 15 năm Trường CĐSP Quảng Trị)

 alt

 

     Như con sông ra biển, hành trình tự chảy khởi nguồn không ít gian lao vất vả nhưng bù lại, được bồi đắp lớp lớp phù sa qua năm tháng. Phù sa làm nên hoa thơm trái ngọt, tận hiến yêu thương và khát vọng cho đời. Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị như con sông ấy, có được vóc dáng hôm nay chính là nhờ bao thế hệ thầy trò dày công vun đắp, dựng xây. Đó là niềm tự hào của những kỹ sư tâm hồn đưa sự nghiệp trồng người cập bến hạnh phúc.

      15 năm, tính từ 1997 đến nay, thời gian đủ để nghiệm chứng những gì chúng ta gặt hái được. Tiềm lực đội ngũ không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, ngành nghề đào tạo liên tục được mở rộng và nâng cao, cơ cấu tổ chức phát triển rõ nét, hoạt động dạy – học chuyển biến nhanh chóng cùng với việc đổi mới phương pháp và ứng dụng công nghệ hiện đại, công tác nghiên cứu khoa học vận hành đúng quỹ đạo, góp phần thúc đẩy cổ máy giáo dục đào tạo của nhà trường tiến lên vững chắc.

15 năm, một cơ ngơi mọc trên cây cằn và sỏi đá, lớn lên trong sự chăm chút của nhân dân, của các ngành các cấp. Ngôi trường trở thành mái ấm chăm sóc tâm hồn, nuôi dưỡng trí tuệ và chạm khắc dấu ấn vào thời gian. Ai người ra đi, ai còn ở lại mãi mãi không quên tháng ngày xanh tươi ấy.

     Từ mái trường này, những cánh chim bay vào trời rộng. Dẫu khó khăn chưa hết, ưu tư còn đầy nhưng tình yêu, sự trưởng thành nghề nghiệp của bao gương mặt từ trăm nẻo báo về. Có niềm vui nào lớn hơn!

     Ấn phẩm kỷ niệm 15 năm Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị là “nhịp cầu nối những bờ vui”; là cuộc hội ngộ những sẻ chia, tâm tình giao cảm; là dịp tốt để chúng ta nhìn lại và hướng tới, khai phóng tiềm năng trí tuệ trong nỗ lực đưa giáo dục nhà trường vươn lên phía trước, hòa vào dòng chảy thời đại.

     Tâm thành, mong muốn sự họp mặt đông đủ nhưng khi thực hiện đặc san, Ban biên tập khó có điều kiện liên lạc với các thầy cô và các em học sinh viên được hết. Điều nữa, chắc chắn tập sách không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong quý bạn đọc, thầy cô cùng các em cảm thông và chân thành góp ý.

 

                                                                Ban biên tập

                                                                                 (VVL viết)

 alt

   SV Trường CĐSP Quảng Trị

 

 

Căn bệnh - Truyện ngắn Nguyễn Trọng Hòa

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Tuổi Nhâm Thìn, tháng 7 này hưu. Anh hiện là Trưởng khoa Tự nhiên đầy năng lực và rất chi đắc nhân tâm. Nhưng điều này thì có thể có người chưa biết: Anh là Nhà văn NGUYỄN TRỌNG HÒA, cây bút viết truyện ngắn thời Văn nghệ Bình Trị Thiên, bạn của Nhà văn Hữu Phương.

alt

Chân dung Nhà giáo - Nhà văn Nguyễn Trọng Hòa

Đang biên tập Đặc san Kỷ niệm 15 năm, từ số này, nhân chủ sẽ đăng một số tác phẩm của CBGV trong Trường để bạn văn tiện ghé thăm, đọc cho vui.

 alt

Căn bệnh

Truyện ngắn NGUYỄN TRỌNG HOÀ

 

Hương quay lại khép cửa rồi nhìn đồng hồ, đã hơn mười một giờ đêm. Hôm nay là ngày Nhà giáo, suốt ngày phòng cô không lúc nào vơi khách, phần lớn là các em giáo sinh. Có lẽ vì mệt nên vừa tựa vào thành giường mắt cô đã riu ríu. Tiếng cửa cọt kẹt làm cô giật mình. Hình như có ai. Cô bước nhanh ra cửa: không thấy ai cả! Lại một lần nữa, cũng như vậy. Cô đâm sợ. Đến lần thứ ba, cô mới bật dậy, trước mát cô lù lù hiện ra một thanh niên trong bộ áo quần sọc nhà tù.

Long, thằng Long sao nó lại về đây? Có một luồng khí lạnh chạy suốt sống lưng cô.

- Thưa cô…Một giọng trầm khàn rầu rĩ cất lên. Cô vụt đứng lên.

- Em về đây làm gì nữa?

Hắn đứng thõng thượt, đầu cúi xuống, tay phải vịn vào thành bàn. Hương quay mặt đi.

- Thưa cô, em về thăm cô và muốn nói đôi điều trước lúc xa cô…Hương tưởng mình nghe nhầm. Nhưng không, trong giọng nói của hắn là cả một sự thành thực.

*

*      *

Đó là một ngày tháng ba.

Người ta chuyển về lớp Hương một giáo sinh với hồ sơ khá buồn! Lưu ban hai năm, ăn cắp có hệ thống. Ông Trưởng phòng Tổ chức nói với cô.

- Đành vậy, không còn cách nào khác. Mong chị giúp cho nó, còn nước còn tát…

Cô đã nhận hắn vào lớp có lẽ vì ngấn nước mắt trên khuôn mặt quá đau khổ của người mẹ hơn là lời đề nghị của ông trưởng phòng.

Hắn ngồi trước mặt cô, lầm lì, thỉnh thoảng mới ngước mặt lên. Đôi mắt hắn to và sắc, nét hung dữ nổi lên trên khuôn mặt đầy trứng cá. Trái lại hắn có một giọng nói rầu rĩ, dễ lọt lòng người, thậm chí đáng thương.

Cô tiếp chuyện với hắn tối hôm đầu tiên hắn về lớp. Cô cố tạo ra một không khí tự nhiên để hắn có thể bộc bạch. Hình như hắn cũng cảm thấy dễ chịu khi tiếp xúc với cô. Hắn đọc thấy trên khuôn mặt xinh đẹp của cô không một chút mặc cảm nào. Đột nhiên hắn hỏi:

- Thưa cô, cô có nghĩ rằng nhận em vào lớp sẽ ảnh hưởng lớp không? Cô có tin là em bỏ được cái chứng xấu ấy không?

Quả thật, Hương bị bất ngờ. Hắn đã chủ động tấn công. Hương nhìn xoáy vào đôi mắt hắn.

- Cô nghĩ, ít ra em cũng biết thương em và tôn trọng bản thân mình. Cô vẫn tin rằng em tự chữa được căn bệnh của mình.

Hắn ngồi im lặng rồi cất giọng buồn buồn.

-  Thưa cô em vốn thích sòng phẳng. Sòng phẳng ngay cả trong việc xem xét việc làm của chính mình. Nhiều khi lấy cắp chiếc đồng hồ của bạn, ăn xong, hút xong, em nhận tội liền. Em biết em xấu, nhưng không hiểu vì sao em không thích người khác nói quá nhiều về những bài đạo đức…

Hắn ngừng lại nhìn Hương rồi cúi xuống.

- Hình như căn bệnh đó đã ăn sâu vào máu huyết em, khó chữa lắm. Cái gì đã thấy và thích là em tìm cách lấy cho được. Cô có tin điều đó không?

Hương chợt rùng mình. Hắn nói những điều thành thực đến kinh ngạc. Cô thầm nhận xét cá tính đặc biệt của hắn. Còn hắn, sau lần tiếp xúc với cô, hắn nói với bạn bè.

            - Không hiểu vì sao mới gặp cô, hắn lại có thể nói được như vậy. Và có một điều chắc chăn là hắn không nói dối cô.

Tháng đầu tiên về lớp hắn đã để xảy ra một chuyện không hay. Và sau này hắn mới hiểu vì sao cô giáo chủ nhiệm còn trẻ tuổi như vậy mà nhiều người nể sợ. Chính hắn, hắn sợ cả đôi mắt tuyệt đẹp của cô.

Hôm đó là hôm thi lên lớp. Người ta cho biết trước hai mươi câu hỏi vấn đáp. Cùng chấm chung cặp với cô là một thầy giáo già nghiêm khắc. Hắn bắt được câu bảy - một câu khó. Nhân lúc giám thị hai hí hoáy ký vào giấy thi hắn hô bừa lên là câu mười hai, vốn là câu hắn chuẩn bị kỹ. Thầy giáo già ngước mắt lên, bắt gặp cái vẻ lúng túng của hắn, thầy đòi xem lại phiếu. Việc vỡ lở, thầy giáo giận dữ, mặt đỏ bừng, ông lập biên bản. Lần đó hắn đã xin lỗi đến chết, nếu không có cô giáo của hắn có lẽ hắn không được thi lại.

Buổi chiều, ông giáo già nghĩ rằng chắc hắn đã thấm đòn nên cũng không quan tâm hắn. Hắn đứng bên cô giáo chủ nhiệm, tấn kịch ban sáng lại diễn ra, điều này hắn nghĩ là không ai biết.

Sau buổi thi, hắn được cô mời lên phòng – Cô giáo nhìn hắn bằng đôi mắt dịu dàng nhưng nghiêm khắc, rồi nói:

- Nếu em không từ bỏ hẳn những việc làm dối trá ấy thì chẳng bao giờ em chữa được chứng bệnh của mình đâu. Em tưởng là tôi không biết sao? Lần này thì hắn toát mồ hôi thật sự. Cô giáo đã tha cho hắn cả hai lần.

Sau vụ này, người ta thấy hắn nghiêm túc hẳn lên. Không biết hắn đã hứa gì với cô, nhưng công bằng mà nói, thì sáu tháng trôi qua đối với hắn ở lớp mới là cả một bước tiến qua trọng. Hắn đã hoà nhập được với mọi người ở khu tập thể. Họ nhìn hắn không phải bằng con mắt ghẻ lạnh như mấy ngày đầu. Ở đây, cuộc sống tập thể sôi nổi, phong phú đã thực sự lôi cuốn hắn. Người ta phát hiện ra hắn có tài đàn hát và hội hoạ. Tuy vậy, các cô gái phòng nữ vẫn chưa hết mặc cảm với hắn, ngoại trừ Lan - Một cô gái học giỏi, có khuôn mặt bầu bĩnh, phúc hậu.

Một hôm, vào ngày chủ nhật, cả khu tập thể người về nhà, kẻ chơi phố, riêng hắn không đi đâu cả. Hắn lấy đàn ra và một mình vừa đàn vừa hát điệu “Lý thương nhau”. Hắn hát có hồn, bằng một giọng trầm khàn nghe rất tội nghiệp. Nhìn hắn hát không ai nghĩ rằng hắn mắc chứng bệnh “vặt vãnh”. Có lẽ vì trời đẹp quá, hắn không thể ngồi lỳ một chỗ nên sau mấy ca khúc trữ tình, hắn ngừng lại. Hắn bước ra ngoài rồi thong thả đi sang phòng nữ.

- Lan ơi, không đi chơi đâu à? Hắn tươi cười dừng lại bên cửa sổ.

- Anh Long, vào đây chơi. Mấy đứa phòng em về nhà và đi chơi phố cả, chỉ còn mình em thôi! – Lan kéo ghế mời Long ngồi, bàn tay phải vẫn không rời cái khung thêu.

- Anh Long à, đem mấy cái áo rách hôm trước em vá cho, hôm sau còn đi lao động! Lan vừa thêu, vừa nói, khuôn mặt phúc hậu chợt ửng đỏ. Hắn im lặng không nói gì, một cảm giác buồn vô cớ xâm lấn lòng hắn.

- Lan ơi, mình hỏi thật nghe. Thế Lan không ngại người ta cười à?

- Anh Long nói lạ, sao lại cười? Lan mở to đôi mắt ngơ ngác.

Hắn bỗng thấy Lan đẹp lạ lùng. Cái vẻ đẹp chân chất, tươi mát và rất thật, chỉ có ở cô gái vùng thôn dã.

- Mình nghĩ không phải ai cũng như Lan đâu…mà thôi…Hắn chợt thở dài nhìn vào khung thêu rồi trầm tư:

- Lan thêu đẹp quá, nhưng công bằng mà nói thì con chim bồ câu này chưa đẹp…

- Thế anh Long vẽ được không?

- Cũng tàm tạm…

- Vẽ lại cho em đi!

Hắn xích lại gần Lan. Mùi thơm lá dừa từ mái tóc mới gội của cô gái làm hắn dễ chịu. Hắn ngã người ra đằng sau ngắm con chim bồ câu hiện lên trên khung thêu. Bất chợt vai hắn chạm vào khuôn ngực tròn trĩnh, ấm áp. Một cảm giác mới lạ xôn xao trong hắn.

- Anh Long vẽ không chê được, ở gần hoạ sĩ mà em không biết! Hắn cười, nụ cười của một người ít được người ta khen, có cái gì tội nghiệp. Lâu nay hắn thường quen với những lời phê bình đầy mặc cảm.

Nắng đã lên khá cao, trời như xanh hơn, cao hơn. Hắn vui vẻ chào Lan rồi thong thả dọc hành lang trở về. Bất chợt, hắn dừng lại tần ngần trước dây phơi. Rồi không hiểu vì sao hắn dừng lại rất lâu - Hơn ai hết, hắn hiểu, căn bệnh máu huyết đã bắt đầu vật vã hắn. Không gian trống vắng, chỉ có hắn, không ai khác và trước mắt, ngang tầm tay thôi là mấy bộ áo quần mới may của các bạn. Hắn đang đứng trước một thử thách lớn lao. Một sự giằng xé giữa con người và thằng khốn nạn. Hai tai hắn ong ong như có tiếng ai gọi, như tiếng thằng Quang, thằng Chiến gọi cho hắn một cái bánh mỳ ngon lành khi dạ dày lõng lẻo,hắn vẫn còn nhớ như nguyên cái cảm giác sung sướng đến ứa nước mắt khi Lan đi chơi về đưa cho hắn hai điếu thuốc thơm lừng, không biết kiếm ở đâu ra. Sáu tháng qua, hắn đã quyết tâm xoá đi cái định kiến trong lòng mọi người và bước đầu hắn đã làm được nhiều điều tốt. Hắn hiểu chỉ cần một lần nữa lặp lại thói cũ người ta sẽ tống hắn ra khỏi trường như một cái giẻ rách. Lòng nhẫn nại con người cũng có giới hạn.

Hắn im lặng một hồi rồi đảo mắt ngó quanh. Hai bộ quần áo mới trên dây phơi như trêu chọc hắn. Tất cả im ắng lạ thường, đến nỗi hắn nghe rõ tiếng tim mình đập. Hắn lùi lại vài bước rồi ghé mắt nghiêng qua cửa sổ. Cô gái hiền lành vẫn say sưa với con chim bồ câu hắn vẽ. Có lẽ điều hắn nói có lý chăng “một căn bệnh máu huyết đã thấy và thích là lấy cho bằng được…”.

Hắn trở lại dây phơi. Chỉ còn đúng một gang nữa thôi – Cái khoảng giữa bàn tay hắn và bộ áo quần đột nhiên hắn rụt lại. Hắn cảm thấy nhột nhạt đằng sau gáy như có đôi mắt nào dõi theo. Hình như hắn cảm thấy bất cứ lúc nào, chỗ nào hắn cũng bắt gặp đôi mắt tuyệt đẹp của cô giáo chủ nhịêm.

Không, không gì cả! chỉ là yếu bóng vía thôi. Hắn lại nhìn lên dây phơi rồi hình như tất cả đang yếu dần, mờ dần. Toàn bộ con người hắn đang thức dậy quyền đòi hút, đòi ăn, uống. Hắn đã bước qua phút mềm yếu của mình để hiện nguyên hình là một nhà nghề có hệ thống.

Số phận đã không ủng hộ hắn. Hắn bị bắt quả tang sau đó hai giờ khi đang bán áo quần vừa lấy được ở ngoài phố. Biến cố xảy ra như một cơn lốc. Hắn biết, thế là hết. Buổi chiều xuống trong sự nặng nề của cả khu tập thể. Người ta nhìn hắn như một sinh vật không còn hiện diện trên đời này nữa. Tự nhiên, hắn không sợ kỷ luật, không sợ đuổi học. Hắn sợ vô cùng là các cuộc gặp mặt. Hắn sợ phải nhìn khuôn mặt dễ thương của cô gái phòng bên. Và trời ơi, chưa bao giờ hắn cảm thấy hốt hoảng như bây giờ khi nghĩ đến đôi mắt tuyệt đẹp của cô giáo chủ nhiêm. Hắn hiểu, trong sự độ lượng bao dung không một chút mặc cảm trên đôi mắt có cả sự hy vọng về hắn.

Một đêm qua với những ý nghĩ, dự định vây đặc trong đầu, cuối cùng hắn đi đến một quyết định: - Phải ra đi!

Sáng hôm sau, hắn cáo ốm không lên lớp. Cũng không hiểu vì sao người ta lại quên mất bài học cảnh giác về hắn. Khi tất cả khu tập thể không còn một bóng người, hắn vội vã hành động. Hắn điểm qua những thằng bạn “có máu mặt” ở trong phòng rồi lấy mỗi đứa một bộ quần áo mới nhất. Và có lẽ vì thiếu nhiều nên hắn không nỡ nhẫn tâm thu vén của những thằng bạn quá nghèo. Hắn lấy có lựa chọn.

Sau khi chất đầy ba lô quần áo hắn nhanh chóng lên chiếc xe đạp khá tốt của thằng bạn cùng phòng. Hắn phác qua một kế hoạch: - Sẽ ra Bắc với số tiền bán quần áo. Sau đó tìm đến nhà ông bác ruột giàu có làm đến Thứ Trưởng ở Hà Nội, tạm trú rồi tính sau.

Đi hết dãy nhà ở, một thoáng bùi ngùi nhìn lại khu tập thể. Đến dãy nhà nữ hắn dừng lại, nhét một bức thư vào cửa gửi lời chào vĩnh biệt Lan - Cô gái duy nhất mà hắn không quên được.

Số phận không may vẫn tiếp tục bám theo hắn, mặc dầu hắn đi được một quãng đường khá xa. Trên chiếc xe ra Bắc, hắn gặp phải một tay anh chị cao thủ hơn đã nẫng cái ba lô đầy của nả của hắn, để lại cho hắn một cái ba lô đầy giẻ rách. Hắn bắt đền chủ xe. Lời qua tiếng lại một hồi, hình như ngoại hình của hắn có vẻ dữ dằn và đặc biệt là nét đáng sợ trên đôi mắt của hắn mà người lái xe phải đấu dịu làm theo lời hắn, quay xe trở lại đoạn đường rẽ đuổi theo gã lưu manh kia.

Hắn bị bắt khi trở lại ngã ba đường rẽ. Bước xuống xe, đứng giữa đám bạn bè bừng bừng căm giận, hắn nói:

- Mất hết cả rồi, đừng đánh tao nữa!

Không ai nỡ đánh hắn. Giọng nói rầu rĩ, đáng thương hiệu nghiệm lạ lùng.

*

*      *

- Em uống nước đi! 

Hương lặng lẽ đẩy cốc trà về phía hắn. Hình như cố gắng lắm hắn mới ngẩng đầu lên được. Giọng hắn lạc hẳn đi.

- Thưa cô ngày mai 21 tháng 11, người ta sẽ đưa em lên khu trại giam, đêm nay, em xin phép để về thăm cô. Em đã ba lần bước vào cửa rồi ba lần quay ra và lần này…

Hương quay lại nhìn thẳng vào hắn giọng đượm buồn.

- Bây giờ em tính sao?

- Thưa cô, trước mắt em đã khoác áo nhà tù. Với em, lúc này những dự định chỉ là vô nghĩa. Điều làm em yên tâm là đã nói được với cô những điều cần nói. Bây giờ em xin phép cô cho em được ghi vài dòng…

Hương giao quyển sổ chủ nhiệm trang dành riêng cho hắn. Hắn viết: “Em đã bỏ lỡ một cơ hội tốt mà cô đã giành cho em. Những gì em đã làm, em sẽ gánh chịu, sẽ trả giá bằng chính cuộc đời mình. Em sẽ trở lại thăm cô khi đã trở thành công dân tốt…

… 11 giờ 45 phút đêm 20 - 11,

Người học sinh đáng buồn và muộn màng của cô”.

Hắn viết xong, ngước lên nhìn Hương, trên gò má đen xạm của hắn long lanh hai giọt nước mắt.

 

 

                                                                                                                        NTH

 

 

 

 

15 SỰ KIỆN NỔI BẬT

Báo chí Trackbacks (0) Thêm góp ý   

15 SỰ KIỆN NỔI BẬT

QUA 15 NĂM PHÁT TRIỂN TRƯỜNG CĐSP QUẢNG TRỊ (1997 – 2012)

alt



 

 

1- Đột phá chuyển đổi và đa dạng hóa ngành nghề đào tạo:

Từ thuần túy đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, năm học 1998 – 2000, nhà trường đột phá mở các ngành học ngoài sư phạm. Hiện nay, Trường CĐSP Quảng Trị không chỉ là địa chỉ tin cậy đào tạo đội ngũ giáo viên trình độ từ trung cấp, cao đẳng, đại học cho các bậc học Mầm non, Tiểu học, THCS mà còn là trung tâm đào tạo đa ngành đa nghề, đáp ứng nhu cầu phát triển KT-VH-XH của địa phương. Tính đến nay, bên cạnh các ngành sư phạm, đã có hơn 15 ngành nghề ngoài sư phạm được đào tạo, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, CNTT, dịch vụ, du lịch...

2- Đẩy mạnh liên kết đào tạo:

Liên kết đào tạo trình độ đại học, hướng tới phát triển bậc học. Từ năm học 2007 – 2008 đến nay, Trường CĐSP Quảng Trị hợp tác liên kết với 06 trường đại học, trung tâm đào tạo trong nước và đã đào tạo trên 30 lớp với gần 2000 học viên ở trình độ Đại học. Hướng đi mới này mở ra nhiều cơ hội phát triển nhà trường và nhu cầu người học.

3- Mở rộng hợp tác quốc tế:

Hợp tác có hiệu quả với 08 trường đại học vùng Đông Bắc Thái Lan, 02 trường ở nước bạn Lào trong lĩnh vực đào tạo sinh viên, nâng cao trình độ cho đội ngũ giảng viên, dạy – học ngôn ngữ bản địa, trao đổi học thuật, chia sẻ thông tin, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật...Thu hút và triển khai thành công các dự án hỗ trợ giáo dục đến từ Phần Lan, làm cầu nối giao lưu văn hoá, du lịch... Hiện tại, hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục đào tạo không ngừng được củng cố, đẩy mạnh cùng với việc tìm kiếm đối tác mới để học tập, tiếp thu tinh hoa giáo dục các nước phát triển.

4- Đổi mới phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ:

Chuyển đổi phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ là giải pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo từ phía người học trong môi trường giáo dục hiện đại. 3 năm trở lại đây, nhà trường đã tích cực nghiên cứu, vận dụng có hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo.

5- Nâng cao chất lượng đội ngũ:

Nhà trường chú trọng triển khai các chương trình bồi dưỡng thường xuyên như: tổ chức các lớp chuyên đề, tập huấn, hội nghị, hội thảo phục vụ yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình, SGK... Mở các lớp bồi dưỡng CBQL (Mầm non, Tiểu học, THCS), kĩ năng ứng dụng CNTT, nghiệp vụ sư phạm; tập huấn chương trình Intel; đào tạo Tiếng Anh, Tiếng Thái, Tiếng Lào cho đội ngũ CBGV, công chức tỉnh nhà.

Trình độ đội ngũ cũng được nâng cao, từ 03 thạc sĩ năm mới thành lập, đến nay đã có 1 tiến sỹ, 66 thạc sĩ; 14 NCS, 12 đang học Cao học trong nước và nước ngoài.

6 - Quy mô và chất lượng nghiên cứu khoa học:

Cùng với đào tạo bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học là một trong ba nhiệm vụ của bậc học, góp phần nâng cao năng lực, trình độ và chất lượng đội ngũ. Trong tổng số 942 đề tài (ĐT), có 242 ĐT & SKKN cấp Phòng/Khoa/Tổ trực thuộc, 648 ĐT cấp Trường, 46 ĐT cấp Tỉnh/Ngành, 6 đề tài cấp Bộ của CBGV và 963 đề tài NCKHGD của sinh viên cuối khóa.

7 - Cơ sở vật chất ngày càng hoàn thiện:

Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học luôn được quan tâm xây dựng và bổ sung. Trường hiện có cơ ngơi khang trang với tổng diện tích sử dụng hơn 100.000 m2, bao gồm: Nhà Hiệu bộ, giảng đường, nhà đa chức năng, nhà học, trung tâm hỗ trợ học tập - thư viện, KTX, nhà ăn - câu lạc bộ,  phòng thực hành Vật Lý, Hoá học, Sinh học, Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, sân bãi TDTT (chưa tính 1 giảng đường đa năng đang xây dựng).  

8 - Phát triển tổ chức:

Từ cơ cấu tổ chức đơn giản, qua 15 năm phát triển và trưởng thành, Nhà trường đã từng bước kiện toàn. Đến nay, đã có bộ máy qui mô: Ban Giám hiệu, 6 Phòng chức năng, 7 Khoa chuyên môn, 3 Tổ trực thuộc BGH, 3 Trung tâm; các tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn TN, Hội sinh viên.

Từ con số 77, đến nay, đã có 164 CBGV-CNVC. Hàng năm, còn được bổ sung đội ngũ trẻ đáp ứng nhiệm vụ và xu thế phát triển của nhà trường.

9 - Đề án phát triển tổng thể nhà trường giai đoạn 2011 – 2015 và tầm nhìn đến 2020:

Đề án quy hoạch tổng thể phát triển nhà trường giai đoạn 2011 – 2015 và tầm nhìn đến 2020 đã được UBND Tỉnh Quảng Trị phê duyệt mở ra bước phát triển mới, là tiền đề quan trọng để xây dựng trường thành đại học đa ngành. Để sớm thực hiện được mục đích này, thầy và trò nhà trường CĐSP Quảng Trị đang ra sức phấn đấu, thi đua dạy tốt – học tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

10 - Phần thưởng cao quý:

15 năm xây dựng phát triển, tập thể và cá nhân nhà trường vinh dự đón nhận các phần thưởng cao quý:  

   1. Huân chương Lao động Hạng Nhì và nhiều cờ thi đua, bằng khen của Chủ tịch nước, Tổng Liên đoàn lao động, Bộ Giáo dục & Đào tạo, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Quảng Trị;    

   2. Chủ tịch nước phong tặng Danh hiệu Nhà giáo ưu tú cho các nhà giáo: Nguyễn Thanh, Hoàng Ngọc Diệm, Lê Thị Xuân Liên, Trần Quốc Việt.

alt

Tìm về - thơ Nguyễn Tiến Mẹo

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Tìm về

 alt

Anh về tìm lại chốn xưa

Cái ngày thơ dại em vừa qua sông

Con đò chở nắng nhớ mong

Yêu thương chao chát, mây bồng bềnh trôi

Mưa bay giăng kín góc trời

Bước chân cao thấp bên đồi cỏ may

Lối quen còn đó dấu giày

Tuổi xanh náo nức cầm tay lên đường

Thế mà nghìn dặm khói sương

Đậu trên nhánh tóc vô thường nhân gian

Anh về với tuổi hương ngàn

Đồng Lê phố mới ngập tràn niềm thương

Nhớ một thuở đẫm tơ vương

Nhớ câu hát cũ, thuở đương bế bồng

Mẹ - đôi mắt núi vời trông

Đá mềm chân cứng lòng mong anh về

Nắng hồng bừng sáng đường quê

Cồn cào sợi nhớ, bộn bề giọt thương…

 

Anh về nhặt sỏi sân trường

Nghe hồng tuổi ngói, dỗi hờn cầm tay...

 

                           Nguyễn Tiến Mẹo

 

 

 

 

 

 

 

ÁO DÀI THỜI TRANG VÀ CẢM HỨNG TỪ TRANH SƠN MÀI CỦA VÕ XUÂN HUY

Album ảnh Trackbacks (0) góp ý (1)   

ÁO DÀI THỜI TRANG VÀ CẢM HỨNG TỪ TRANH SƠN MÀI CỦA VÕ XUÂN HUY

Không ngừng tìm tòi sáng tạo, luôn có những đột phá mới trong nghệ thuật tạo hình. Mỗi cuộc triển lãm của anh là một bất ngờ thú vị bởi không lặp lại. Lần này thì cảm hứng từ anh tạo sức truyền dẫn sang người khác và đây là một tin vui tôi vừa nhận qua mail:

“Giới thiệu bà con một số bộ ( có 15 mẫu) áo dài của NTK Viết Bảo lấy cảm hứng từ hoa sen Tịnh Tâm và tranh sơn mài của tui(mấy mẫu hoa văn, triện thời nhà Nguyễn mà tui hay sử dụng trên bề mặt nứt nẻ, nhăn co)
Bộ này sẽ trình diễn tại Festival Huế 2012. Vui vui.
Xem nhé.
Best!”

alt

  Châu Loan và Phương Chi, Đại Nội, Huế

alt  

Cùng 2 người mẫu Châu Loan và Phương Chi, Đại Nội

alt

Châu Loan, Miss Đại học Huế-2010

alt

Mẫu HH Mai Phương Thúy, cảm hứng từ hoa Sen và SM Võ Xuân Huy

alt

alt

alt




HÔM QUA, PHÓ NHÁY TÁC NGHIỆP ( Thành Trung và VVL thực hiện)

Album ảnh Trackbacks (0) Thêm góp ý   

HÔM QUA, PHÓ NHÁY TÁC NGHIỆP

alt

 Sinh viên CĐSP Quảng Trị

altalt

alt

Cán bộ trẻ: Thanh Phúc - Thu Sang

alt

Giải lao sau tập huấn dự án Phần Lan

alt

Bên hoa khôi "MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN"

alt

 CBGV

Giảng đường dấu yêu

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Mấy tuần nay biên tập Kỷ yếu khoa học (cùng các thành viên Hội đồng) chuẩn bị ra mắt ấn phẩm tại Hội thảo sắp tới, lại ngập đầu với cuốn Đặc san kỷ niệm 15 năm thành lập Trường. Cái cuốn thứ 2 thú vị hơn bởi mình vốn thích sự tung tẩy “tự do sáng tạo”. Số đầu này đăng bài của ThS Sinh học Bích Thủy, một nhà giáo trẻ trung, xinh đẹp cùng họ với mình. Chủ nhân blog mời anh em chia sẻ với người đẹp qua bài viết này nhé.

GIẢNG ĐƯỜNG DẤU YÊU

                                                                                                                                Võ Thị Bích Thủy

 alt

  Ảnh: ThS Bích  Thủy

Tôi về trường vào một ngày đầu thu. Tháng tám miền Trung thường nắng hơn mọi khi, nhưng ở một nơi như trường tôi có lẽ do trời đất đơm duyên nên mỗi người đến đây đều cảm thấy nhẹ nhàng bởi vẻ hài hòa của cảnh vật. Vài tia nắng sót lại rơi khẽ bên hàng cây cuối trường. Gió vẫn rì rào xô những tán lá xà cừ trĩu nặng bởi thời gian. 

Đã bốn năm trôi qua. Thời gian không dài với mỗi đời người nhưng đủ để nhuần thấm những trải nghiệm. Chợt thấy lại cảm xúc xưa cũ trào về thổn thức như mới ngày nào mới bước chân vào nơi này làm việc. Ngày đó, khi mới về trường, tôi bất ngờ gặp một người bạn cũ thời trung học. Tay trong tay, tôi nhớ mãi lời bạn nói: "Cuộc đời này gặp nhau là cơ duyên và được gặp nhau trong đời là hạnh phúc lắm rồi". Tự nhủ, ừ là cơ duyên. Nói rồi chúng tôi cùng đi dưới nắng vàng hoe ngập trong tiếng cười của sinh viên trong giờ nghỉ chuyển tiết.

Bạn chỉ cho tôi Khoa Tự nhiên nằm trên tầng 3 khu nhà A. Chúng tôi đi một vòng quanh ban công. Một cảm giác rất lạ. Cái cảm giác vừa xa xôi vừa gần gũi. Chúng tôi băng qua sân trường. Những gương mặt đôi mươi tròn trịa, đầy đặn, tràn trề sinh lực mà tưởng chừng như chỉ cựa mình thôi cũng đủ để vỡ òa thành những giọt sương lóng lánh. Rồi bạn đưa tôi qua ban công giữa khu nhà E và F. Bây giờ chúng tôi vẫn thường đến đó, nhất là những trưa hè. Nhìn ra mảnh đồi phía sau khu ký túc là một hồ nước thật đẹp. Gió lộng từ Hồ Khe Mây của buổi chiều tháng bảy mang lại cảm giác thật yên bình. Mỗi lần đứng ở đây chúng tôi lại ấp ủ những khát khao. Khát khao về một ngôi trường vươn lên, chuyển mình trong một ngày không xa, một chiếc cầu băng qua hồ, xa xa là những khu giảng đường với những hàng cây xanh rợp bóng. Giảng đường rộng thênh thang sạch sẽ. Rồi không biết cơ man nào là hoa. Hoa trên giảng đường, hoa giành cả lối đi, hoa chen với nắng. Tôi lại liên tưởng đến đại học Sakhon Nakhon (Thái Lan) mà chúng tôi đã đến đó trong một chuyến hội thảo. Bạn nói bạn tin một ngày trường chúng mình sẽ làm được hơn thế. Rồi bạn bảo: Nhắm mắt lại. Im lặng và nghĩ đến tương lai. Những con đường rải nhựa trải dài cho ôtô nằm ngay trong khuôn viên trường. Phong lan treo khắp các cành cây cổ thụ.  Khu ký túc ngăn nắp và hiện đại. Phía dưới chân đồi xa xa là khu vườn thực nghiệm sinh học… Bạn và tôi đứng nhìn ra xa trong yên lặng. Cứ như thể, cái yên lặng đó đưa chúng tôi đến với tương lai. Tôi miên man về tương lai, đắm say về một giấc mơ đẹp. Và quá khứ là những miền xa vắng thanh tao. Chúng tôi không huyễn hoặc, vì chúng tôi có sức trẻ, có tình yêu và niềm tin vào một chân trời xanh mát.

alt

Tôi gặp bạn và đến nơi đây không tình cờ. Người ta nói sự tình cờ thường mang đến nhiều điều thú vị. Tôi nghĩ không tình cờ mà đó cơ duyên. Cơ duyên này cho tôi một nơi trải nghiệm bao ước mơ, dự định. Một nơi có những con người  thân thương đã nâng bước chân tôi, để tôi được lớn thêm và trưởng thành. Để khi vấp ngã thấy mình bớt đau hơn. Cơ duyên cũng đưa tôi đến với Đoàn Thanh niên của trường, để tôi cứ sống mãi với tuổi đôi mươi, để hàng ngày được giữ lửa cho tuổi trẻ. Mái trường này cũng mang đến cho chúng tôi cả những ấp ủ, những khát khao cống hiến. Lại nhớ. Những đêm nồng nàn bên ánh lửa trại, những điệu nhảy rộn ràng của cả ngàn sinh viên. Hay cả những lúc cô và trò cùng ngồi khóc bên đống tre nứa làm cổng trại mà trời thì cứ mưa hoài, mưa mãi...

Lại nhớ nữa, lớp Sinh – Hóa K12 khi tôi mới về trường. Vào một ngày đầu xuân. Cả lớp cứ réo rắt cô lì xì, tôi bí quá lì xì lớp một mẫu chuyện. Tôi lấy một tờ giấy A4 gấp tư và bắt đầu đọc. Cả lớp rì rào nói chuyện. Đến câu thứ hai, thứ ba…các em ngồi im phăng phắc. Đến hết đoạn một, tôi nghe có tiếng sụt sùi. Rồi vỡ òa. Tôi nếm những giọt nước mắt của chính mình và hình như lẫn cả nước mắt của những học trò yêu thương. Lạ thay! Những giọt nước mắt rất ngọt và ấm. Tôi nhớ mãi đó là chuyện về Kim Bằng – một cậu học trò nghèo với hành trình đến giải Nobel Vật lý, với ý chí và nghị lực kiên cường cùng tình yêu bao la của người mẹ. Rồi đến chuyện của chú chó trung thành Hachiko với người chủ là một giảng viên đại học. Những câu chuyện cứ đưa cô trò chúng tôi băng qua những miền cổ tích. Càng thấy cuộc đời cứ rộng thêm ra và đáng sống để yêu thương, trân trọng. Để rồi cô và trò cứ khất nhau. Thôi thì, cứ nợ cho mãi còn duyên!

Những ngày nắng ơi là nắng, cái nắng miền Trung chắc đã thành “đặc sản” trong tâm trí nhiều người khách lạ. Họ đến đây và bảo sao nắng gắt thế mà nữ sinh viên trường tôi vẫn cứ trắng đến lạ. Cứ như sắc trắng của nắng ăn vào trong da, trong thịt. Cái khô cằn cũng không quật ngã được sức sống của cỏ cây. Bạn bảo chúng tôi là hoa của vùng khó. Mà khó thật, khó trăm bề, bởi sinh viên có mười thì hết chín là đến từ những vùng quê nghèo, từ ruộng lúa, vườn tiêu. Cái chất quê đó hiền như đất, ngọt như mía tháng ba, thấm đượm vào từng bài học của trò, bài dạy của cô. Nhớ những hứng khởi trong giờ sêmina mà quên cả tiếng chuông.  Sinh viên tìm tòi tư liệu, tự tin thuyết giảng trên những phương tiện công nghệ hiện đại. Chao ôi là tự hào!  Rồi nhớ những lúc cô và trò chát đến tận khuya trên diễn đàn trực tuyến về một vấn đề khoa học hóc búa. Hay chỉ là những chia sẻ qua những dòng comment ngọt ngào. Rồi cả những cậu học trò trắc trớ, bảo là em thấy thực tế thế này, thế kia…Cả cô và trò cùng bàn luận sôi nổi, đôi lúc tôi tìm kiếm hết ngôn từ nhưng không thể nào diễn đạt hết những ngóc ngách của cuộc đời. “Em ơi, cuộc sống luôn muôn màu. Nó chẳng hồng. Chẳng xanh. Và chắc chắn là không xám xịt. Nhưng ở đâu còn tình yêu, ở đó cuộc sống sẽ tươi màu” – Tôi gỡ bí một câu nói xưa cũ của bạn.  Cả lớp cùng cười. Chao ôi là nhớ!

Trong hành trình của cuộc đời, chưa bao giờ tôi sẽ nghĩ mình làm việc trong một ngôi trường sư phạm. Ngày xưa khi chia tay nhau thời phổ thông, trong giờ học tiếng Anh cuối cùng, một người bạn xin phép cô giáo lên tặng cả lớp chúng tôi chữ WAS trên bảng. 12A1 của  chúng tôi ngày ấy thi nhau đoán già đoán non. Trí tưởng tượng tuổi mười tám thời ấy sao mà phong phú đến thế. Rồi bạn tôi nói đó là chữ viết tắt của câu: WE ARE SUCCESS mà bạn muốn gửi gắm. Cả lớp cùng cười. Tiếng cười vỡ òa cả không gian. Ấy thế, tôi cứ nghĩ mình sẽ bay bổng với một ước mơ ngày xưa cũ, rong ruổi trên những cung đường tới các vùng đất xa xôi không biên giới hay với những hành trình an sinh xã hội. Hay những thứ đại loại thế.  Nhưng rồi cơ duyên đã đưa tôi đến bục giảng.  Bỏ lại đằng sau những dự định cho cuộc đời. Để rồi bây giờ nếu bạn có hỏi, tôi đang làm việc ở đâu, tôi có thể tự hào để nói rằng: Tôi dạy ở Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị. Hay: Tôi là giáo viên.

Chúng tôi đang từng ngày góp phần nhỏ bé của mình làm việc trong ngôi trường rất đỗi thân thương này. Cơ duyên ấy cũng phảng phất những nỗi phiền muộn không tên, nhưng đó chỉ là những cơn gió trái mùa làm tăng sức đề kháng cho cơ thể xuân thì. Cuộc đời cứ đưa chúng tôi đi qua bao miền thương, miền nhớ. Có khi là cận kề cả tử sinh. Bốn năm, ngoài ba mươi, giữa dòng đời bề bộn khiến người ta có thể lãng quên nhau. Nhưng khi bước chân vào trường, nhìn những khuôn mặt trong trẻo của sinh viên, tôi dường như quên đi những mệt mỏi, lo toan của cuộc sống thường nhật. Tôi vẫn mãi đi tìm, trong cái mênh mông của tri thức nhân loại, là sự ấm lòng bởi những tình cảm yêu thương của đồng nghiệp, của bao thế hệ học trò. Tôi đã từng rất sợ hãi khi đọc cuốn Cô độc giữa vũ trụ. Một tiểu thuyết chất chứa nhiều nỗi niềm về nhân sinh quan. Để rồi bây giờ chợt nhận ra giữa cuộc đời bao la mình không cô quạnh. Những tình cảm ấm áp tôi như muốn ôm thật chặt, như cứ sợ sẽ tan biến đi. Bao thế hệ  sinh viên cứ đi qua, các thế hệ thầy cô cứ thầm lặng hy sinh và cống hiến. Chúng tôi cảm thấy hình như mình không có tuổi. Thời gian, với những ai bên ngoài cánh cổng trường có thể rất đáng ngại, với chúng tôi, tâm hồn sinh viên như những đơn thuốc trường sinh bất tử.

Từ chiếc radio công cộng văng vẳng bài hát mà tôi rất thích Em đứng giữa giảng đường hôm nay mà niềm vui trong lòng dâng đầy… Bạn nắm tay tôi thật chặt. Chúng tôi đi lên một con dốc hun hút ngập lá vàng. Nhìn lên phía đồi, nơi ấy có một giảng đường dấu yêu…

                                                        VTBT

 

 

 

Tạp chí Cửa Việt phát động cuộc thi thơ và bút ký

Chung Trackbacks (0) góp ý (4)   

Tạp chí Cửa Việt

phát động cuộc thi thơ và bút ký

QĐND - Tạp chí Cửa Việt (Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Trị) vừa phát động cuộc thi thơ và bút ký năm 2012 với đề tài viết về quê hương, đất nước trong chiến tranh vệ quốc và thời kỳ đổi mới, ưu tiên những tác phẩm viết về Quảng Trị, hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

 alt

Ảnh VVL

Mỗi tác giả có thể gửi nhiều tác phẩm, bút ký văn học không quá 4000 từ, không nhận tác phẩm là trường ca; hạn cuối nhận bài ngày 30-9-2012, lễ trao giải dự kiến tổ chức vào tháng 11-2012. Mỗi thể loại có 1 giải đặc biệt, 1 giải nhất, 2 giải nhì, 3 giải ba, 4 giải khuyến khích. Tác phẩm dự thi gửi về: số 128 Trần Hưng Đạo, TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; email: tapchicuaviet@gmail.com.

                                                                                                   Trần Hoài

http://www.baomoi.com/Home/SachBaoVanTho/www.qdnd.vn/Tap-chi-Cua-Viet-phat-dong-cuoc-thi-tho-va-but-ky/8083361.epi

 

giấc tình - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) góp ý (2)   

 

Giấc tình

 alt

một lứa bên trời

thảo nguyên mùa bừng sương đẫy

nóng rẫy nụ hôn

nồng thơm tay gió


đất dưới chân tụ sinh những cỏ

thản nhiên xanh

rung niềm đau biến mất

dấu ngựa dẫm lên mình


nắng. mưa. và thời gian quên bấm đốt

thời gian nảy cỏ hồng

vũng mắt ngời sáng


thảo nguyên bảng lảng

ta tan sương

giấc mê về bước cũ

tơ tằm đẫm hương.

 

        15/3/2012

          VVL

TỨ TUYỆT NGUYỄN VĂN GIỚI

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) Thêm góp ý   

TỨ TUYỆT  NGUYỄN VĂN GIỚI

Như đã giới thiệu ở 2 số trước, từ cao nguyên, nhà giáo Nguyễn Văn Giới đã mail cho VVL chùm tứ tuyệt với chủ đề”Quê & Yêu”. Mời thi hữu dạo góc vườn thơ của anh.  

1.     QUÊ 

       LỆ SƠN

Lệ Sơn nơi ấy quê tôi

Núi cao sừng sững, đất trời nên thơ

Bộ hành đứng ngắm ngẩn ngơ

Quên ngày đã cạn, quên giờ hẹn em !

 

           SÔNG

Sông Gianh  xưa Trịnh – Nguyễn phân tranh

Giới tuyến chia Đàng ngoài – Đàng trong

Sông vẫn thủy chung,  chẳng đổi dòng

Người  xa quê vẫn nhớ - chờ - mong !

 

 

          NÚI

Chập chùng núi, mờ chân mây

Chim kêu, vượn hót gọi bầy

Xanh xanh trời, xanh cỏ cây

Tiếng suối reo, ngày nối ngày.

 

 

           BẤT CHỢT

Bất chợt chiều nay tôi nhận ra

Giọng của ai như giọng quê ta

Thanh âm nằng nặng, lòng âm ấm

Phố núi xa nghe rất hiền hòa !

 alt

     2. YÊU


        ĐỪNG

Đừng nhìn nhau như thế

Cháy lòng anh mất thôi

Đừng nhìn nhau như thế

Khổ cho nhau một đời !

 

       MẮT EM

Mắt em là cả một hồ thu

Trong sáng, thơ ngây đến bất ngờ

Xin em đừng để lòng anh đắm

Chết đuối cả người, chết đuối thơ !

 

       TIẾC

Tiếc chi nữa em ơi

Mình xa nhau thật rồi

Đành phụ em, lỗi hẹn

Gặp nhau ở cuối trời !

 

 

        NHỚ

Nỗi nhớ  em cứ tràn về bất chợt

Để  cơn mưa chiều nay sũng nước

Để chân đi lỗi bước giữa đường bằng

Để cánh thơ -  bay vào  cõi xa xăm...   

                       NVG

 

 

CHÙM ẢNH TỪ ĐÍNH HÔN ĐẾN VU QUY VÕ HOÀNG YẾN

Album ảnh Trackbacks (0) Thêm góp ý   

CHÙM ẢNH TỪ ĐÍNH HÔN

ĐẾN VU QUY VÕ HOÀNG YẾN

 

Ngày 10.3.2012, sự kiện lớn của gia đình Nhà thơ Võ Văn Hoa (anh ruột Võ Văn Luyến), là tổ chức Lễ Vu quy cho cháu VÕ HOÀNG YẾN (Trưởng nữ) sánh duyên cùng Út nam NGUYỄN QUANG HÙNG tại Hội trường Phong Hải ( Thị trấn Hải Lăng). Dự tiệc cưới có đông đủ bà con nội ngoại, thân hữu xa gần của bố mẹ và đồng nghiệp, bạn bè cô dâu. VVL vừa tiếp khách vui vẻ vừa tranh thủ chớp lấy những khảnh khắc đẹp trong ngày vui này.

alt

alt

 

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt


Vọng - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) góp ý (4)   

 NHÂN 8/3, CHÚC CHỊ EM NGÀN NĂM THANH SẮC VÀ VUI HOA!

Vọng    

 alt

Kia là cốc cà phê

Tôi nghe ngọt đắng chảy về miền xưa

Uyên nguyên nắng

Uyên nguyên mưa

Sắc bùa yếm thắm đủ vừa hư không

Khói sương gầy nhớ đèo bòng

Ảo huyền thuở nõn vít cong mày ngài

Lược trăng trễ ngọn mây cài

Mê cung lạc giấc mơ ngoài nhân gian

 

Này là nỗi miên man

Có còn vọng niệm thường cang mắt ngời?

 

                       08/3/2012

                             vovanluyen

Sự biến mất của sức mạnh - Nguyễn Thị Từ Huy

Tài nguyên Trackbacks (0) góp ý (2)   

Nguyễn Thị Từ Huy

Sự biến mất của sức mạnh

“[L]uôn luôn phải bảo vệ kẻ mạnh chống lại kẻ yếu”[1]. Nếu đọc qua, mệnh đề này của Nietzsche có vẻ như phản tiến bộ, và khó chấp nhận. Nhưng nếu đặt nó trong toàn bộ quan niệm của ông về sức mạnh và về kẻ mạnh thì sẽ thấy ông rất có lý. Những phân tích của Deleuze về vấn đề sức mạnh hoạt năng và sức mạnh phản ứng của Nietzsche cho thấy rất khó để trở thành kẻ mạnh.

 

Theo Nietzsche, ở kẻ mạnh, sức mạnh hoạt năng chiến thắng bằng cách chế ngự sức mạnh phản ứng, và bằng cách vươn tới tự khẳng định mình. Kẻ mạnh tự khẳng định mình trong tư cách là kẻ sáng tạo. Bản chất của kẻ mạnh là sáng tạo và khẳng định sự khác biệt của mình, chứ không phải là phủ nhận kẻ khác. Và yếu tố sáng tạo gắn liền với yếu tố phê phán. Phê phán được hiểu là “sự phá hủy trở thành hoạt năng”. Nhờ năng lực phê phán mới có thể sáng tạo ra các ý nghĩa mới và các giá trị mới. Do vậy, kẻ mạnh là kẻ có khả năng phê phán, có khả năng tự phê phán (tự hủy diệt), và có khả năng chấp nhận sự phê phán. Bởi thế, phê phán và tự phê phán là điều kiện thiết yếu để đạt tới sự hoàn thiện, để nâng cao sức mạnh, để biến sức mạnh phản ứng thành sức mạnh hoạt năng. (Xin xem thêm bài “Phê phán và siêu nhân”).

 

Nietzsche nhận thấy rằng, trong thực tế, kẻ mạnh rất dễ dàng trở thành kẻ yếu, và luôn luôn có khuynh hướng trở thành kẻ yếu. Kẻ mạnh không những bị đe dọa bởi số đông kẻ yếu, mà còn bị đe dọa bởi sự yếu đuối nằm trong chính bản thân nó, và chủ yếu là bị đe dọa bởi sự yếu đuối của chính nó. Deleuze giải thích: “Cần bảo vệ những kẻ mạnh chống lại những kẻ yếu, nhưng ta biết tính chất vô vọng của công việc này. Kẻ mạnh có thể chống lại kẻ yếu, nhưng không chống được việc trở thành kẻ yếu[2], cái kẻ chính là anh ta”[3]. Vì thế mà cộng đồng phải có ý thức bảo vệ kẻ mạnh, và mỗi cá nhân phải có ý thức bảo vệ sức mạnh trong con người mình, chống lại sự yếu đuối của chính mình.

Dưới đây là một vài suy nghĩ vụn vặt xung quanh sự biến mất của sức mạnh.

Khi nào thì phản ứng tự vệ đồng nghĩa với sự biến mất của sức mạnh ?

Để tự vệ, người ta thường trách móc, lên án, đổ lỗi cho người khác. Việc buộc cho người khác có lỗi tạo cảm giác an toàn, yên tâm, và tránh được mọi trách nhiệm. “Nếu tôi có làm điều này hay điều nọ thì không phải lỗi của tôi, mà là lỗi của kẻ kia, chính hắn bắt tôi phải làm như vậy”.

Một kẻ mạnh tự tấn công thay vì, hay trước khi, tấn công người khác. Kẻ đó cố gắng đi đến tận cùng các ngóc ngách sâu khuất nhất của nội tâm, của bản thể, của hành động, để xem hắn đã nhầm lẫn ở đâu, sai ở đâu, để xem những hậu quả tai hại nào có thể xẩy ra do hành động của hắn. Do đó, hắn thấy tự mình phải chịu trách nhiệm về hành động của mình, tự mình phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình, không đổ lỗi cho ai khác.

Kẻ yếu từ chối đi vào chính mình, có lẽ vì hắn không đủ sức mạnh để chịu đựng cái sự thật mà hắn sợ là sẽ khám phá ra. Trong trường hợp bị buộc phải đi vào đó, hắn sẽ cố tìm ra những “sự thật” khiến hắn cảm thấy dễ chịu, những “sự thật” bảo vệ cái hình ảnh mà hắn muốn chứ không phải là hình ảnh thực sự của hắn. Thế nên đó là một “sự thật” đáng ngờ, hoặc đúng hơn, đó không phải là sự thật, mà là một sự giả dối được dùng làm sự thật, cái mà Sartre gọi là “ngụy tín” (mauvaise foi). Lâu dần hắn tin rằng cái hình ảnh mà hắn muốn tạo ra cho hắn, cũng có khi để trình diện trước người khác, là hình ảnh đích thực của hắn. Và hắn yên tâm với hình ảnh “đích thực” ấy, quên mất rằng đó chỉ là cái mà hắn “muốn” chứ không phải cái mà hắn “là”. Rồi hắn dùng cái mà hắn muốn này như một tấm lá chắn để trách móc người khác mỗi khi hắn bị tấn công, hoặc cảm thấy bị tấn công. Vì trên thực tế đôi khi chẳng ai định tấn công hắn cả. Trong sâu thẳm, sự yếu đuối chính là ở chỗ hắn luôn lo sợ bị kẻ khác tấn công. Kể cả khi kẻ khác làm những việc chẳng liên quan gì đến hắn hoặc có những niềm đam mê chẳng liên quan gì đến hắn, hắn cũng tìm thấy trong những việc ấy, trong những niềm đam mê ấy một sự tấn công dành cho hắn.

Phản ứng tấn công cũng có thể là sự biến mất của sức mạnh

Để trấn áp nỗi lo sợ và sự yếu đuối, kẻ yếu thường tấn công trước. Và tấn công bất chấp những chuẩn mực chung về đạo lý, bất chấp những nền tảng nhân đạo mà nhân loại đã đổ bao xương máu, tốn bao công lao suy tư, tìm tòi, thử sai để xây dựng nên.

Phản ứng tấn công của kẻ yếu có nhiều biểu hiện:

Im lặng khi cần nói ở những nơi cần phải nói, trước những việc cần phải nói. Đó là sự tấn công điển hình của kẻ yếu: tấn công bằng im lặng. Một sự tấn công tưởng tượng.

Nói ở những nơi mà kẻ bị tấn công không có khả năng tự bảo vệ: cái hình thức tấn công hèn hạ này được gọi là nói sau lưng. Trong trường hợp này, tha hồ tấn công và chiến thắng là tuyệt đối, nhưng trong cái chiến thắng tuyệt đối đó, sức mạnh cũng tuyệt đối biến mất.

Buộc cho người khác cái tội mà họ không có. Trường hợp này được gọi là vu khống. Trong hành vi vu khống sức mạnh hoàn toàn tiêu tan.

Và lúc nào thì sức mạnh biến mất?

Những phiên tòa không cho bị cáo có quyền bào chữa là nơi sức mạnh biến mất một cách thảm hại.

Sức mạnh biến mất khi người ta cho phép mình làm bất cứ điều gì, vì cho rằng xung quanh toàn những kẻ ngu đần và những kẻ ngu đần ấy sẵn sàng tin vào bất cứ lời giải thích nào, dù là vô lí nhất. Sức mạnh biến mất khi người ta biết rằng xung quanh không phải là những kẻ ngu đần, nhưng rồi tìm mọi cách để biến họ thành ngu đần hay buộc họ phải tồn tại chỉ như những kẻ ngu đần. Sức mạnh biến mất, vì thực tế là sức mạnh không thể được tạo nên từ sự đần độn. Một tập thể đần độn đến mức chấp nhận tất cả mọi lời giải thích, dù chúng vô lí và lừa dối, đó sẽ không bao giờ là một tập thể mạnh được. Ở nơi sự đần độn ngự trị, kể cả những kẻ có trí tuệ cũng bắt buộc tự biến mình thành đần độn, nơi đó sức mạnh không thể tồn tại. Và cùng với sự biến mất của sức mạnh thì các giá trị cũng bị tiêu vong. Lúc đó, theo cách diễn đạt của Nietzsche, các phẩm chất cao quý bị hủy diệt và sự thấp kém đê hèn sẽ ngự trị khắp nơi.

Ở nơi nào có sự tấn công trong bóng tối, tấn công dấu mặt, nơi đó kẻ mạnh biến mất.

Ở nơi nào người vô tội bị buộc cho cái tội mà họ không có, nơi đó kẻ mạnh biến mất.

Ở nơi nào quyền lực áp chế trở thành thước đo của sức mạnh, nơi đó kẻ mạnh biến mất.

Nơi mà pháp luật trở thành công cụ cho một thiểu số đặc quyền đặc lợi, nơi đó kẻ mạnh bị diệt vong.

Nơi mà tư duy và sự trình bày công khai các kết quả của tư duy bị cấm đoán, nơi đó kẻ mạnh biến mất.

Ở một nơi như vậy, các ý nghĩa và các giá trị của cuộc sống, của việc sinh ra làm người, cũng biến mất.

Nhưng không có nơi nào mà mọi thứ đều tuyệt đối biến mất, nên các ý nghĩa và các giá trị của cuộc sống và của việc làm người tồn tại trong những nỗ lực nhằm giành lại những gì đã mất, hoặc trong những nỗ lực gìn giữ những gì có nguy cơ biến mất ấy, hoặc trong nỗ lực tạo ra các giá trị mới. Những nỗ lực như vậy nhiều khi được đẩy xa đến mức người ta chấp nhận trả giá bằng sự biến mất của chính mình. Và đó là lúc mà sức mạnh được khẳng định.

Tất cả mọi người đều có thể trở thành kẻ mạnh, nếu họ vượt qua được sự yếu đuối của mình, nếu họ biết tự chiến thắng chính mình bằng cách tự hủy diệt chính mình, nói theo tinh thần của Nietzsche. Tất cả mọi người đều có thể trở thành kẻ mạnh bằng cách tự triệt tiêu phần tồi tệ, phần yếu đuối trong con người mình. Những gì xấu xa tệ hại phải chết đi thì những gì tốt đẹp mới có thể phát triển được.

Điều khó khăn là đôi khi những gì tồi tệ lại được cho là tốt đẹp, những gì cần loại bỏ lại được bảo vệ tới cùng. Khi mà mọi thứ bị lộn ngược như vậy thì sẽ vô cùng khó khăn để trở thành kẻ mạnh.

 

N. T. T. H.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

[1] Nietzsche, Ý chí quyền lực, quyển I, mục 395.

[2] Chúng tôi nhấn mạnh -NTTH

[3] Gilles Deleuze, Nietzsche và triết học, Nguyễn Thị Từ Huy dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính, NXB Tri Thức, 2010, tr. 237.

Trăng sương

Thơ Trackbacks (0) góp ý (6)   

Trăng sương

alt

Đêm qua trăng về trước ngõ

Chừng còn có nỗi chi buồn

Trăng sáng mà không được tỏ

Ủ ê như ráng hoàng hôn

 

Trăng gieo xuống lòng khói sương

Mấy mùa ấp iu thơ dại

Vần vũ chân trời biên tái

Chim di lạc bóng cuối đường

 

               Võ Văn Luyến

Đối ngọn đèn khuya - thơ Võ Văn Luyến

Tài nguyên Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Đối ngọn đèn khuya

alt

Bàn chân buồn vương sương ra đi
nghe thời gian chờ mong như khi
em còn trong ta thương yêu thầm thì


Thôi ta tìm về đêm xuân xa xưa

dòng sông hiền hòa sao rơi lưa thưa
con tim bồng bềnh sao tình bơ vơ


mình ta lang thang qua bao cơn mơ

chân thành mà chưa nên hình câu thơ
vòng đời hư hao ăn năn mơ hồ

 

ta thương bông hoa lên cành cây cao
nào hay đường trần vuông tròn ra sao
cô đơn thay cho kinh cầu xanh xao

 

ta không còn em ta quen màu đêm
ta ngồi bên song lòng không bình yên
ta đau hồn mình mưa rơi hồn nhiên.

                                   VÕ VĂN LUYẾN
(Rút trong tập “Trầm Hường Của Gió”, NXB Thuận Hóa, 2003)

"Thơ khó" hay câu chuyện của những giới hạn - Nguyễn Thanh Tâm

Tài nguyên Trackbacks (0) Thêm góp ý   

“THƠ KHÓ”

HAY CÂU CHUYỆN CỦA NHỮNG GIỚI HẠN

                                                                                    Nguyễn Thanh Tâm

 alt

                     Ảnh nguồn: Phan Bạch Châu

            Trong một bài viết có tên “Thơ khó” đăng trên báo Ngày nay, số 145, thứ Bảy, 14 Janv, 1939, Xuân Diệu đã diễn giải những suy ngẫm của mình về hai lối thơ: dụng tâm khó và khó một cách vô tâm, chuyển dẫn từ quan niệm và thực hành thi ca của Mallarmé, Baudelaire,…Theo Xuân Diệu, “Mallarmé đã cố ý làm cho thơ của ông tối tăm, bí hiểm; ông đã giấu nghĩa của thơ ông để thiên hạ đi tìm” (Thơ khó – Xuân Diệu). Khi sáng tạo, Mallarmé nghĩ đến độc giả như là một người chơi trong cuộc ú tim chữ nghĩa mà tác giả là người tổ chức, sắp đặt. Sáng tạo theo đường hướng này là một cách làm cho thơ trở nên “khó” trong sự tiếp nhận của độc giả. Trong cách diễn giải của Xuân Diệu rõ ràng lỗi thuộc về độc giả. Cái khó “cao kỳ” cả về ý tưởng và hình thức trong thơ Mallarmé hay P.Valéry “Đấy là cả một chủ nghĩa, cả một lý thuyết; cười cợt hay chế giễu sự “bí hiểm” của hai ông, việc ấy rất dễ làm, và chỉ tỏ ra rằng ta có một trí não tầm thường, nông nổi”. Từ suy nghĩ ấy, Xuân Diệu gợi ý thái độ “kính nhi viễn chi” đối với hình thái thơ này. Khó trong lối thơ của Mallarmé là khó có dụng tâm. Đẩy độc giả lâm vào tình thế “bất khả giải” chính là mục đích trong sáng tạo của các thi sĩ này.

 

            Có một lối “khó” khác, theo Xuân Diệu là “khó một cách rất vô tâm” mà đại diện tiêu biểu là Ch.Baudelaire. Lối thơ này, nhà thi sĩ không nghĩ đến độc giả, hay đúng hơn là chỉ chú ý theo đuổi ý tưởng, cảm xúc của mình, khám phá những vùng mĩ cảm mới trong tinh thần của bản thân. Làm thơ theo lối này, thi sĩ “chỉ đuổi theo những hình sắc trong trí tưởng, chỉ thu lấy những âm điệu của tâm tư, vội vàng nhón chân lên hái những hoa lạ”. Những bông hoa lạ ấy có thể là Hoa ác (Baudelaire) hái lên từ Một mùa ở địa ngục (Rimbaud) – nghĩa là một giới hạn khác của mĩ cảm, đôi khi nó khiến cho công chúng thấy “khó” bởi không cùng thi sĩ đi về những nẻo lạ ấy.

 

            Hai lối “thơ khó”, Xuân Diệu đều bày tỏ sự trân trọng, và đặt định những khả thể cho thi ca Việt Nam thời các nhà thơ mới cho rằng thơ ca truyền thống đã không còn đủ sức biểu tỏ tinh thần của cá nhân và thời đại. Xuân Diệu hướng mình theo Baudelaire, nhưng ông không hái được những bông “hoa lạ”. Đến Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên, Đinh Hùng, Xuân Thu nhã tập và Dạ đài mới thực sự khiến người ta hiểu hơn về khái niệm “thơ khó”. Các nhà thơ vừa nêu, họ đã đi xa hơn Xuân Diệu về phía Baudelaire, Rimbaud và cả Mallarmé, để đẩy thơ mới Việt Nam 1932 – 1945 về miền tượng trưng, siêu thực. Nghĩa là, thơ trữ tình Việt Nam đến thơ mới 1932 -1945 đã đi được bước dài về hướng hiện đại hóa, tiến gần hơn đến hình thái thơ ca của thế giới.

 

            Quan niệm về “Thơ khó” là một “tuyên ngôn” về giới hạn của Xuân Diệu, cũng như là sự thác lời của “cộng đồng diễn giải” trước các hiện tượng thơ cách tân xa hơn những vùng tư duy và mĩ cảm của công chúng tiếp nhận. Xuân Diệu là một độc giả, thậm chí có thể xem là một độc giả tinh anh, thế nhưng, trong bài “Thơ khó” chính Xuân Diệu đã nói lên giới hạn của mình. Dù đã kêu gọi sự “kính nhi viễn chi” của độc giả trước các hiện tượng thơ khó, dù đã bày tỏ “niềm tin” trong sự bất khả giải trước giá trị của “thơ khó” nhưng chính Xuân Diệu lại phản ứng khá gay gắt trước thơ điên của Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Đinh Hùng, thơ ca của Xuân Thu nhã tập và Dạ đài có lẽ là những “ca khó” đối với Xuân Diệu. Danh hiệu “mới nhất trong các nhà thơ mới” mà Hoài Thanh đặt định cho Xuân Diệu dẫu đã được nhắc đi nhắc lại hơn 70 năm qua nhưng rõ ràng là thiếu đi sức thuyết phục cần thiết. Nếu đem quan niệm về thơ mới của Xuân Diệu, diễn giải trên tinh thần “thơ thuần túy” của Mallarmé,…ta thấy Xuân Diệu “cũ” hơn rất nhiều thi sĩ khác thời thơ mới. Lương Đức Thiệp trong Việt Nam thi ca luận (Khuê văn xuất bản cục, MXMXLII) đã cho rằng thơ Xuân Diệu, Huy Cận chẳng có gì là khó hiểu. Khó hiểu hơn, quái dị, lạ lùng là thơ của Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Xuân Thu nhã tập. Cùng với thời gian, sau nhiều cân nhắc, sàng lọc của lịch sử, những hiện tượng thơ “mới” hơn Xuân Diệu càng chứng tỏ kết luận của Hoài Thanh có nhiều hạn chế. Lý do không phải quá khó kiếm tìm. Hoài Thanh cũng đã tự giới hạn mình trong chân trời của mĩ cảm và tư duy lãng mạn. Khi Baudelaire đi tìm nguồn mĩ cảm mới từ Hoa ác (1857), khi Rimbaud gặt hái cả Một mùa ở địa ngục (1873), ở Việt Nam (cuối những năm 30, đầu những năm 40 của thế kỷ XX), Hàn Mặc Tử có Thơ điên, Bích Khê có Tinh huyết, Chế Lan Viên có Điêu tàn, Đinh Hùng có Mê hồn ca (hoàn thành bản thảo từ 1943), Đoàn Phú Tứ có Màu thời gian, Nguyễn Xuân Sanh có Buồn xưa, Hồn ngàn mùa, Bình tàn thu, Phạm Văn Hạnh có Giọt sương hoa,… Xuân Diệu quả đã đuối sức trong chuyến đập cánh về chân trời của sự cách tân, làm mới thơ ca.

 

Trên phương diện sinh thành học, thơ mới 1932 – 1945 có những tương đồng với thơ đương đại. Từ điểm nhìn của thơ mới 1932 – 1945 nghĩ về thơ đương đại, nhìn nhận một vài hiện tượng thơ dưới quan niệm “khó” của Xuân Diệu, chúng ta có thêm những luận giải về tính tất yếu trong sự sinh thành, phát triển của các hình thái thơ ca. Từ sau 1975, đặc biệt là sau khi đất nước đổi mới, nền văn học của chúng ta bước vào một thời kỳ mới mà đặc trưng của nó gợi lại cả một thời đã từng xuất hiện hồi đầu thế kỷ XX. Một nền văn học rất phong phú, vận động về hướng tự do, hội nhập với tinh thần chung của thế giới khiến chúng ta khó lòng điểm hết ra đây những gương mặt đã góp vào diện mạo của văn chương đương đại. Công chúng của văn học tiếp nhận thơ Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Hưng, Đặng Đình Hưng, Dương Tường như thế nào? Đàn (thơ ngoài lời – Dương Tường) có phải là một ca “khó”, hay Bóng chữ, Ngó lời của Lê Đạt, Ô mai của Đặng Đình Hưng, Người đi tìm mặt của Hoàng Hưng, Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều, Hôm sau và đặc biệt là Bầu trời không mái che của Mai Văn Phấn?… Thơ Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư hay Văn Cầm Hải, thơ Tân hình thức hay thơ nhóm Mở miệng có “khó” hay không? Nẻo cách tân của họ ở đâu và thực sự họ đã cách tân được gì trong diễn trình của thơ ca đương đại? Gần đây chúng ta có Những kỷ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung. Đó có phải là “thơ khó”? Rất nhiều các nhà thơ khác như Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nhụy Nguyên, Trần Tuấn, Lê Vĩnh Tài, Đỗ Doãn Phương, Công Nam, Đinh Thị Như Thúy,… quả thực đã làm sống lại không khí sinh hoạt văn chương tiền chiến mà đỉnh cao của nó là Thơ mới. Từ diễn giải của Xuân Diệu, “thơ khó” có hai cách thức: dụng tâm khó và khó một cách rất vô tâm. Trong một sự tương sánh có tính chất “vụt hiện”, Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Hưng, Đặng Đình Hưng, Dương Tường là cách tân có dụng ý, lấy chữ, lời làm đối tượng, để tự thân chữ bộc lộ khả năng diễn đạt của nó trong cơ chế va chạm và tạo sinh khác với truyền thống. Mallarmé từng nói trong bài “Khủng hoảng của thơ” (Crise de vers, 1895): “Tác phẩm thuần túy ngụ ý sự biến mất cách diễn đạt của nhà thơ, người nhường quyền chủ động lại cho từ ngữ, trong một cuộc đụng độ giữa sự bất bình đẳng của cả hai bên được huy động; chúng sáng lên nhờ ánh phản chiếu lẫn nhau giống như vệt ảo của lửa cháy trên đá, thay thế cho sự hô hấp dễ thấy trong hơi thở trữ tình cũ xưa hoặc ý hướng nhiệt tình cá nhân lộ ra trong câu’’ (Theo Phạm Xuân Nguyên, Xuân Diệu và thơ khó). Lê Đạt rất sở trường về đảo ngữ, quán ngữ, lược văn, rút tỉa các hư từ, huy động nhiều thực từ đặt bên cạnh nhau để chúng tự va chạm, sinh tạo nên những lớp nghĩa lý thú trong những cấu trúc ngữ pháp mới đọc thấy nhiều trúc trắc, vặn vẹo,... Nhưng đấy là cái lạ thuộc về thi cách của người ‘‘phu chữ’’ này. Đặng Tiến cho rằng, Lê Đạt chỉ lạ chứ không mới, Lê Đạt ‘‘dối già’’ và thơ ông là lời cảnh tỉnh cũng như gói trọn trong đó niềm hy vọng ở những người ‘‘đang xoan’’. Nhưng quả thực, đọc thơ Lê Đạt người ta có cái thú của sự khám phá, mà trước hết là khám phá chính mình trong sự đọc. Khi Ch.Bally – người học trò của F.Sausure, đưa ra khái niệm trường liên tưởng, kế thừa tư tưởng của người thầy, chúng ta hiểu rằng, mỗi từ có một tập hợp đa chiều những liên hệ với các từ khác, trong tư duy và mĩ cảm của chủ thể, làm thành một trường liên tưởng, trường thẩm mĩ và luôn chuyển hóa, vận động trong trường văn hóa, sinh quyển của sự tồn tại. Sự va chạm của thực từ, những cấu trúc đảo ngữ, lược văn và rút tỉa của Lê Đạt đem đến trước hết một nguồn mĩ cảm mới cho sự đọc, sự diễn giải văn chương khác với thói quen đôi khi nhàm chán. Trong bối cảnh của thơ ca đương đại Việt Nam, điều đó đã là một thành công quan trọng. ‘‘Sự biến mất cách diễn đạt’’ truyền thống chúng ta bắt gặp nhiều hơn, rõ hơn trong các tác phẩm của Dương Tường, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng. Phạm Xuân Nguyên trong một diễn giải về ‘‘Thơ khó’’ đã cho rằng: ‘‘Xem thơ là cái mang bản chất thiêng, Mallarmé trả lại cho nó ý nghĩa thiêng vốn có. Nhà thơ trở thành thầy cúng, bài thơ là câu bùa chú, còn từ ngữ là yếu tố của một giai điệu vô tận. Ngôn ngữ mà người thường không hiểu được sẽ có sức mạnh nhờ các nhịp điệu ma thuật. Thứ thơ như thế đòi hỏi nhà thơ phải lánh đời, nhốt mình trong cô đơn sáng tạo’’ (Xuân Diệu và thơ khó). Không chỉ cô đơn trong sáng tạo, ngay trong sự tiếp nhận, các thi sĩ và thi phẩm này cũng không tránh khỏi trạng thái cô đơn, bởi trên bình diện đại chúng, đó là những bài “thơ khó” đối với người đọc.

 

Tiếp cận một vài hiện tượng thơ ca khác như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Vi Thùy Linh, Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Phan Thị Vàng Anh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Bảo Chân, Nguyễn Phan Quế Mai, Trương Đăng Dung, Nguyễn Thế Hoàng Linh,…trên tinh thần những diễn giải về “Thơ khó” của Xuân Diệu, luôn tương sánh với quan niệm khởi thủy của Mallarmé về “thơ thuần túy” (Xem thêm bài viết Xuân Diệu và thơ khó của Phạm Xuân Nguyên) chúng ta nhận ra hướng cách tân “khó một cách rất vô tâm” trong thơ Việt Nam đương đại. Xuân Diệu cho rằng: “Cái tính cách cốt yếu của thơ là sự khó. Đó là quan niệm mới nhất, mà cũng đúng nhất. Vì sao? Vì thơ thực là thơ thì phải cho “thuần túy”, người thi sĩ gắng sức đi tìm cái thơ thuần túy (la poésie pure), nghĩa là đi thu góp những cái tinh hoa, những cái cốt yếu, cái lõi của sự vật. Vì vậy, thơ phải súc tích, phải sắc lại như một thứ thuốc nấu nhiều lần” (Ngày nay, số 145). Trong ý hướng này, chúng ta giật mình nhớ lại, Hàn Mặc Tử đã chạm đến lõi cốt của thi cảm chính là Đau thương, Chế Lan Viên âm thầm dò xét trong sự tỉnh táo thế giới Điêu tàn đã mang về được thứ linh khí của cõi âm, khiến người ta “kinh dị”. Loạn là căn cốt tinh thần của Chế Lan Viên. Loạn không gian, thời gian, loạn dương trần và địa phủ, loạn ngày và đêm, chập choạng và hé sáng, người với ma, sự sống và cái chết, cái đương thành và đương hủy, cái trong hiện tại và cái mang dự phóng của ngày chưa đến. Còn Bích Khê, cốt lõi tinh thần làm nên kiểu thơ “thuần túy và tượng trưng” của thi sĩ này chính là “Cuồng”. Cuồng là trạng thái hiện ra của sự say mê đến tuyệt đỉnh trước “Nhạc và Lệ”, “Dâm và đẹp”,... Còn Đinh Hùng, thơ, là lời của chiêm bao, là khúc vọng của tiền kiếp, là sự hiển linh của ánh sáng trong âm u, là sự trở về hoang sơ, nguyên thủy. Đinh Hùng bị quyến rũ bởi vẻ đẹp đang lụi tàn, cái vàng son đang phai nhạt, nhan sắc đang hư hoại trong đáy mồ lạnh lẽo và sự cô độc của thiên tài trên bước thiên di tìm về tiền sử. Chính ở đây, quan niệm về chất thơ, về cái đẹp, về khổ đau và hạnh phúc của thi nhân được hiển lộ. Và thơ ra đời như giọt lệ, như tiếng cười hoan lạc, như “nét bút điên” trên “trang sách diễm tình”. Với Đinh Hùng, dường như, thơ còn là lời tuyên cáo âm thầm về một sự chối bỏ, một sự khước từ thực tại để ra đi, để trở về nơi sự sống còn trinh nguyên như như buổi đầu tiên khai lập…Cũng mang tâm thế ấy, các thi sĩ của thơ Việt đương đại đang nỗ lực đi tìm cho mình những căn cước, những xác tín nghệ thuật để hiện hữu. Trong sự quan sát đầy thiếu khuyết của mình, tôi cho rằng Mai Văn Phấn là một trường hợp “khó một cách rất vô tâm”. Trương Đăng Dung cũng vậy, nhưng hai người này là hai lối khó khác nhau. Trong sự vận động của thơ ca, việc gia tăng chất nghĩ, chất suy tưởng cho thơ có lẽ đến Trương Đăng Dung với tập Những kỷ niệm tưởng tượng là một dấu ấn điển hình. Không dễ để tiếp nhận những bài thơ của Trương Đăng Dung trong tập này. Cần phải trang bị rất nhiều tri thức mang tính chất nền, mới ngõ hầu có thể bước chân vào địa hạt của Những kỷ niệm tưởng tượng. Ai đó đã chủ quan khi cho rằng ấn tượng thơ ca được xây dựng trên móng nền của cảm giác, trực giác, không có nhiều liên hệ với lý trí, thậm chí khai tử lý trí khỏi lộ trình tiếp nhận thi ca. Điều đó bị phản bác ngay khi tiếp cận thơ của Trương Đăng Dung. Cảm giác, ấn tượng sẽ trở nên hời hợt hoặc sẽ chẳng thu được ấn tượng gì đáng kể nếu không có tri thức về triết học ngôn ngữ, về hiện tượng luận, các hệ thống tri thức hiện đại, hậu hiện đại,…Có lẽ vì thế, thơ Trương Đăng Dung kén người đọc và cũng không thể tránh khỏi tâm thế “kính nhi viễn chi” ở nhiều độc giả. Nhưng rõ ràng, Những kỷ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung đã gia tăng rất nhiều chất suy tưởng cho thơ ca đương đại Việt Nam. Trong bối cảnh thơ hiện nay, điều đó là một thành tựu quan trọng, một hướng đi cần thiết. Cái “khó” của thơ Trương Đăng Dung cũng chính bắt nguồn từ căn cốt tinh thần của cái tôi bản thể này. Nền tảng văn hóa, tinh thần của cá nhân và thời đại cùng những trải nghiệm của bản thân nhà thơ đã tự chuyển hóa sang trạng thái “vô tâm” trong quá trình sáng tạo. Ngôn ngữ chắp cánh cho thơ Trương Đăng Dung bay về khu rừng Academy.

 

Khác với Trương Đăng Dung, Mai Văn Phấn lại khó trong những suy niệm về văn hóa, cuộc sống, thân phận. Chất thơ của Mai Văn Phấn toát lên niềm tin (dù có lúc mong manh), sự an lạc. Quan trọng nhất, trong trường thẩm mĩ của mình, Mai Văn Phấn chiếu ánh sáng của đức tin, của niềm thiêng vào sinh quyển thơ ca. Trong một quyển sống chất ngất rủi ro, nhiều giá trị bị phai nhạt, lãng quên, niềm tin, tình yêu, trở thành điều gì đó xa xỉ, phù phiếm, thơ Mai Văn Phấn là một sự xác tín trở lại những thành tố làm nên đời sống con người, không biệt lập khỏi những hiện hữu trong nhân giới, vật giới, quá khứ và tương lai, thậm chí là ở cả thế giới bên kia. Đọc thơ Mai Văn Phấn, người ta thấy trân trọng hơn những phút giây của sự hiện hữu và cả những liên hệ siêu hình ngoài không gian, thời gian, nhưng có ý nghĩa to lớn trong việc kiến tạo nên sự sống của con người. Bầu trời không mái che là một tập thơ khó. Nhưng, như Xuân Diệu đã nói “Chúng ta không hiểu, nhưng khi hiểu được câu nào, thì câu ấy lồ lộ một vẻ đẹp nguy nga”. Theo tôi, cái khó của Bầu trời không mái che chính là tìm ra được cấu trúc ngầm ẩn chi phối mạch vận động của thi tứ, thi ảnh cùng những phân tố cấu thành thi giới. Giải được cấu trúc của thi phẩm, chúng ta thấy rằng, cái khó của Mai Văn Phấn có nguyên do từ một cơ chế tinh thần phức tạp, biểu hiện trong tư duy và mĩ cảm đi quá xa khỏi tâm thức cộng đồng (Đúng hơn phải nói là cộng đồng đã đi quá xa khỏi những giá trị mang tính bản nguyên). Xa nhưng không lạc, Bầu trời không mái che thực chất là sự trở về. (Xem thêm: Lập thể của ký ức và tưởng tượng xuyên qua “Bầu trời không mái che” – Nguyễn Thanh Tâm, in trong Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn khác biệt và thành công, Nxb Hội nhà văn, 2011).

 

“Thơ khó” là một sự diễn giải mang tính tương đối. Xem đó như là biểu hiện của sự cách tân cũng là cách nhìn nhận có nhiều phiến diện. Tuy nhiên, trên tinh thần diễn giải của Xuân Diệu, dù dụng tâm hay vô tâm, để có được sự cách tân đúng nghĩa, có giá trị mĩ học, chủ thể sáng tạo cần phải có một nền tảng tinh thần sâu dày, một năng lực sáng tạo đặc biệt,…Tất cả kết tinh thành chất thơ trong một cơ chế lựa chọn và biểu hiện riêng biệt, độc đáo. Câu chuyện thời thơ mới 1932 – 1945 đang sống lại trong sinh quyển thi ca đương đại. Nghĩ về “Thơ khó” và con đường vận động của thơ ca, khơi một dòng từ Thơ mới đến thơ hiện nay, chúng ta có quyền tin tưởng vào một thời đại của thơ. “Khó” gợi lên những giới hạn, còn cách tân luôn ẩn chứa động năng dự phóng vượt qua giới hạn. Đó là con đường của sáng tạo.

                                                                                                                      NTT

                                                                                                         (Nguồn Phong Điệp)

 

Tản mạn trước giờ bão đến - thơ

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Tản mạn trước giờ bão đến

 alt

Cứ như chim lạc đàn

Lên tiếng hót gọi bầy. Chiều vắng

Cứ như cơn gió thoảng

Lang thang lang thang lang thang

 

Lá thu rơi bàng hoàng

Ta xây lâu đài cát

Em tìm nơi đâu con lật đật

Hờn dỗi trên tay


Cứ như giọt hơi may

Buốt trái tim đau xót

Lỡ chuyến đò ngày ngập lụt

Trầm cảm cánh bèo trôi


Ngoài ba mươi thương nhớ xa xôi

Đuổi bắt gió, tìm hương trời huyễn hoặc

Chợt nắng chợt mưa từ trong đôi mắt

Ta như ai đứng đợi ngả ba sông

Giữa thời này, tôi sống với người điên

Xe rú máy giờ nghỉ ngơi yên giấc

Giờ làm việc chuyện lương cao lương thấp

Chuyện bán buôn, lời lãi mánh mung

 

Cứ như ai kiết xác gọi là thằng

Thằng chữ nghĩa biết mình nuôi ong tay áo

Đời lạ thế: xây ông thiện lại hóa thành ông ác

Mà suốt đời không tin sự thật!


Kẻ hậu sinh như tôi dám mơ trong câu hát

Lý thương nhau nơi con sóng tiền đường

Điệu nam ai nơi nghĩa địa hàng dương

Trận đánh kinh hoàng: người đang sống với người đã chết

Giá trị mất rồi chăng? Câu tự vấn cho mình

Trong tôi là cả tòa án

Cứ như cơn bão lớn

Gió trăm chiều. Tôi ngẩng mặt và đi…

                               Cơn bão số 6, 17/9/1990

                                (thơ viết trên giấy nháp)

 

 

Nguyễn Tuân và phép "lạ hóa" trang văn - PGS. TS Đỗ Ngọc Thống

Tài nguyên Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Nguyễn Tuân và phép "lạ hóa" trang văn

alt

 

                                                                                      PGS.TS Đ NGC THNG

 

 Đọc Nguyễn Tuân, tôi cứ hình dung ông như một pho từ vị sống, phong phú và độc đáo. Thiết nghĩ, có được vốn từ như thế đã là rất khó; sử dụng kho tàng chữ nghĩa ấy thế nào cho hiệu quả, cho đích đáng còn khó hơn nhiều. Điều này giống như người giàu có và việc tiêu tiền của họ. Rất có thể là sang trọng, văn hóa, nhưng cũng dễ trở thành trọc phú, lố bịch, phát cuồng. Nguyễn Tuân là người biết "tiêu tiền". Ông không rơi vào bệnh "loạn ngôn", "ngộ chữ", "cuồng thư"... Ông viết như một hành vi sáng tạo văn hóa sang trọng. Đã nói đến sáng tạo, dù bất kỳ ở lĩnh vực nào, là nói đến cái mới, cái không lặp lại. Nói tác phẩm văn học là những sản phẩm tinh thần không có phiên bản là vì thế. Đọc Nguyễn Tuân thấy ông rất sợ sự trùng lặp, sợ giẫm đạp lên người và giẫm đạp lên mình. Tuy nhiên phong cách lại là một cái gì đó rất ổn định; là sự lắng kết của nhiều yếu tố hao hao giống nhau tồn tại trong nhiều tác phẩm của cùng một nhà văn...Xét từ góc nhìn này, có thể nói: cái độc đáo vô song, điểm nổi bật bao trùm xuyên suốt các tác phẩm của Nguyễn Tuân trên bình diện ngôn ngữ là lấy s thay đi liên tc làm nét n đnh. Luôn luôn mới lạ chính là điểm thống nhất ở mỗi dòng, mỗi trang ông viết. Hình như tất cả cái kho từ vựng khổng lồ, phong phú và độc đáo, ông đều tập trung nhằm lạ hóa trang văn, lạ hóa sự diễn đạt của mình mỗi khi cầm bút. Dường như ông luôn luôn cố chống lại sự giản đơn, nhàm chán và tẻ nhạt trong cách nói, cách viết. Với một vốn liếng ngôn từ nghệ thuật giàu có, mỗi khi cầm bút, bằng nhiều cách khác nhau, Nguyễn không chịu buông ra những câu chữ thông thường. Ông không chịu diễn đạt sự vật và ý nghĩ như ta quen biết hiển nhiên mà luôn tìm một cách nói, một cách biểu đạt mới lạ. Vì thế văn Nguyễn Tuân in đậm dấu ấn chủ quan, cái mà Anh Đức cho rằng:" mỗi dòng, mi ch tuôn ra dưới đu ngn bút đu như có đóng mt du trin riêng". Xin dẫn ra đây một số "phép" Nguyễn Tuân hay dùng để lạ hóa trang văn của mình. Cách viết này tạo cho người đọc cảm giác hình như câu văn lệch chun. Nhưng chính vì thế mà cách viết ấy đã gây nên ấn tượng sâu đậm và tạo được hiệu quả hết sức bất ngờ thú vị .

1. Nguyễn Tuân và nhng t dùng đc đáo

Ngôn ngữ là tài sản chung của cả cộng đồng, nhưng không phải ai dùng cũng được, cũng đúng, cũng hay. Đọc Nguyễn Tuân thấy có những chữ hình như sinh ra để chờ, để đợi ông dùng. Chẳng hạn khi ông viết:" huýt trời ơi, đêm nằm ở đuôi cát (Sa Vũ) Móng Cái mà nghe Ngờ Bờ Vờ nói về cái chốn bùn cực Nam của Tổ quốc ". Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến bình :" Huýt trời ơi, lại thêm một từ mới được Nguyễn Tuân cấp hộ chiếu vào ngôn ngữ văn học" (Năm bài ging v th loi). Có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ mà ở đó ta thấy Nguyễn Tuân "chế tác" ra những từ rất lạ như để chỉ mình ông dùng. Đây là một vài ví dụ: "Ngồi ở hồ Thủy tạ ven hồ Kiếm chếnh choáng hơi rượu sầu nh", "lòng thấy se co hẳn lại ","Phải cố quăng chó vào nhà địa Quế, cố tình mà bắt nó đang gây chó ", " Những tâm hồn ngộ di, thơ mơ, hng hoang "...và đến những chữ này thì chỉ có ở Nguyễn Tuân: Thực dân đc, thc dân cái, sinh vật Ngh Quế chng, sinh vt Ngh Quế v, bn bành bá Tàu ...Ông liệt kê ra hơn 100 kiểu cười, nhiều kiểu rất độc đáo: Cười bng tai, cười bù khú, cười góp, cười dế, cười nga, cười dê, cười trâu, cười đng cn, cười cu phong, cười Thái sư, cười Đng Trác...(Nhân đọc tiếu lâm). Cho đến cười thiếu v sinh thì chắc chỉ có Nguyễn Tuân mới đủ sức khai sinh cho ngôn ngữ Việt. Cũng như khi ông gọi ra các kiểu trăng trong Truyện Kiu, ta mới thấy hết sự độc đáo, phong phú giàu có và đầy sáng tạo trong cách viết của Nguyễn:" Giăng khuyết, giăng tròn. giăng già, giăng non,giăng ngàn, giăng đèn, giăng ca chin, giăng t nn, giăng bù khú, giăng tng nim, giăng c nhân, giăng biên thuỳ, giăng phi gió...(Tn mn xung quanh mt câu Kiu). Hình như giở bất kỳ một trang văn nào của Nguyễn Tuân, ta đều nhặt ra được những từ như thế. Chính những từ này đã làm cho câu văn của ông sinh động hẳn lên và đặc biệt là không lẫn vào đâu được.

2. Nguyn Tuân dùng t đng nghĩa

Nguyễn Tuân có một trữ lượng từ đồng nghĩa vô cùng phong phú và đa dạng. Không những thế ông còn hơn người ở việc biết sử dụng và có ý thức sử dụng chúng. Từ đồng nghĩa trong văn của Nguyễn Tuân có hai loại: loại có sẵn trong kho tàng ngôn ngữ dân tộc và loại ông tự chế tạo ra riêng cho mình và hầu như chỉ mình ông"xài" được . Chính loại thứ hai này in đậm dấu ấn của Nguyễn Tuân. Ông không bao giờ chịu dùng những từ người khác đã dùng quá nhiều. Khi người ta viết: ở đây chỉ có cát vàng, cây xanh và sóng bạc đầu thì Nguyễn viết :" ở đây chỉ có cát vàng cây xanh và sóng trng đầu ". Cũng như khi ta nói : sông Đà dài 883km, thì với Nguyễn Tuân phải diễn đạt là: sông Đà dài 883 ngàn thước mét". Theo cách của Nguyễn Tuân hình như con sông Đà của ông dài hơn lên rất nhiều. Ông không nói: nước ta có 2500km bờ biển mà bảo “2500 cây s cát Việt Nam”. Ông không viết 1/ 4 thế kỷ mà gọi là một góc tư thế kỷ. Ông là người hay dùng từ Hán Việt, nhưng lại lấy chữ khóe, chữ khía để thay thế cho những từ như phương din, bình din, giác đ: "Tắt đèn cũng tiêu biểu cho một khóe hiện thực" hoặc "Cái khía đểu giả khốn nạn vượt hết cả sức tưởng tượng". Người ta bảo hút thuốc, thì ông dùng ăn thuc hoặc thp mt điếu thuc. Có nhiều từ đồng nghĩa do chính ông sáng tạo ra, ví như để chỉ hạt cát chẳng may lọt vào bụng con trai, ông dùng nào là hạt đau, ht xót, ht bi bin xâm lăng; nào là cái bụi bm khách quan nơi rn bin, cái ht but sc, cái khi tình con ...Hoặc để chỉ chiếc cà vạt, ông dùng hàng loạt cách gọi khác nhau: đám cà vạt tơ, nhng gii la màu, nhng thân tơ óng , nhng kiếp tơ tm nhum thm, loài tơ qun c, nhng cung nhân b b rơi, nhng nàng phi tht sng...vv . Viết về đời sống giang hồ, bên cạnh những từ như đời phiêu lưu, đi trôi dt, đi lông bông lang bang, đi bng bnh, đi lang thang, sng trôi ni, đi vin du, đi l th, đi lãng du, đi làm khách ...ông còn "chế tạo" ra những cách nói khác lạ:" lăn cái vỏ mình trên lc đa, mài mòn thân th trên mt đa cu, đi nếm cơm thiên h, đi ch trên lc đa, chước b cuc đi vào đa dư trái đt...Ông gọi bọn phi công Mỹ là những vân phỉ, cướp tri, gic tri, gic lái, thng bay, ác điu M, mt dây tù ti, mt lũ tù dây, mt dây tù M, mt chui qu sng, mt xâu vô li ... Chỉ một cái vết chống sào của người lái đò sông Đà, nhưng ông diễn đạt bằng nhiều cách rất lạ: Cái vết chng sào, cái khoanh c nâu, cái đng tin t máu, mt th huân chương lao đng ... Ngay cả những từ đồng nghĩa có sẵn, ông dùng cũng rất đúng lúc, đúng chỗ. Với từ chết chẳng hạn: nếu là trẻ con thì ông dùng "em nó đi rồi ", người già thì ông viết "c tôi v","ông ấy nm xung", nhà sư "tch ", người có địa vị là " hết lc ", tránh nói chết buồn thì dùng "trăm tui ", chết mà thoả đáng thì dùng" ăn xôi nghe kèn "," việc hai năm mươi "... Chỉ cái chết của Đôtxtôiepxky, Nguyễn viết:" hoàn thành xong thì Đốt tt ngh ", nhưng với đứa con trai " rốt lòng" của mình thì ông viết "Lãng hng ri", còn khi Bá Nhỡ (Chùa đàn) sắp chết, ông bảo" kẻ sp hết làm người "... Những ví dụ như thế trong văn Nguyễn Tuân vô cùng phong phú và đầy sáng tạo, biến hóa .

3. Nguyn Tuân đng t hóa danh tính t

Nguyễn Tuân dùng động từ rất giỏi. Ông sợ bị mắc bệnh "bi lit v đng t", vì thế câu văn của ông thường "vn đng và to hình", "co duỗi thoi mái"... Tuy vậy, hình như dùng vốn động từ thông thường ông cảm thấy chưa đủ, chưa độc đáo, cho nên rất nhiều trường hợp ông sử dụng danh từ, tính từ như là một động từ (động từ hóa danh, tính từ) để sáng tạo một từ mới, một cách nói mới. Thông thường người ta vẫn nói: ném bom, th bom, trút bom, qung bom, b bom, ri bom... Có nghĩa bom là danh từ, bổ nghĩa trực tiếp cho các động từ như ném, thả, trút, qung, b, ri...Nguyễn Tuân không dùng thế . Ông viết: " Kẻ cướp NíchXơn đã bom vào tiếng hát ả đào dân tộc ấy" hoặc “NíchXơn vừa B52 vào tiếng hát cổ truyền Hà Nội". Cũng kiểu cấu tạo từ như thế, ông viết : "  Tônxtôi hành văn chính xác", "Tsêkhốp tha thiết với từng người", " Sông Đà xanh ve mãi lên","Cứ mỗi lần ra tới Trà Cổ là lòng lại đùng đùng gió lên "...

4. Nguyn Tuân đo trt t t

Trong tiếng Việt có nhiều từ ghép thông thường, ai cũng biết, cũng dùng như linh hồn, xương ty, t tiên, âm thanh... Đọc Nguyễn Tuân thấy ông ít dùng những này theo kiểu thuận thông thường mà luôn tìm cách đảo lại trật tự những từ ấy, cũng là để tạo nên một cách nói khác lạ. Hãy đọc mấy câu văn sau đây của Nguyễn: "Tôi cảm thấy anh như một hn linh muôn thuở của sông nước này", " Đốt đã lọc gn ra những nét sáng của con người "," Tôi lặng cúi xuống mặt giấy trắng tinh đang om sòm những tiếng mời chào kia mà nói bật lên những lời biết ơn với đất nước ông bà tiên tổ "... Cứ như vậy ta có thể nhặt ra rất nhiều những từ Nguyễn đổi lại trật tự thông thường. Đây là một số từ như thế hãi sợ, lìa chia, nhit náo, li cách, trái oan, ng ngôn, thanh âm, mòn chết, ty xương ...

5. Nguyn Tuân và câu văn mang dáng dp c

 Điều này thật dễ thấy, nhất là ở những tác phẩm Nguyễn Tuân viết trước cách mạng. Trong Vang bóng một thi, cái gì cũng cổ, từ nội dung đến hình thức. Với lối kết cấu câu và cách sử dụng từ Hán Việt đắc địa, Nguyễn Tuân đưa người đọc trở về với thế giới xa xưa của một thời quá vãng."Dạ thưa trượng nhân, chúng tôi xin chờ những điều trượng nhân dạy bảo" (Trên đnh non Tn)"; “Mà bạch c, chúng tôi không hiểu vì sao ngọn đồi này cao mà thủy li t" (Những chiếc m đt); "Ánh sáng thản nhiên của cây bạch lp tỏa quanh áo tang khăn trắng, người tửu đ tình chung đang vò võ đối mặt vào tranh lạnh" (Chùa đàn) v.v... Đặc điểm này càng về sau càng nhạt dần do sự chuyển đổi trên nhiều phương diện từ đề tài, cốt truyện, nhân vật... đến cách nghĩ, cách cảm, tất cả đều hướng vào cuộc sống mới mang hơi thở và nhịp điệu của một thời đại mới. 

6. Nguyn Tuân vi nhng so sánh đc đáo

Đọc Nguyễn Tuân thấy ông dùng phép so sánh thật là linh diệu. Những so sánh của ông vừa làm người đọc hứng khởi, bất ngờ, vừa thấy người viết rất công phu sáng tạo, khác đời. Đây là kiểu so sánh của Nguyễn Tuân: "đã có ln tôi nhìn sông Đà như mt c nhân"; "Vui như chiêm bao đt quãng", "Bờ sông hoang dại như mt b tin s, hn nhiên như mt ni nim c tích tui thơ "... Những so sánh như thế thấy xuất hiện trong văn Nguyễn Tuân khá cao. Tuy nhiên, chất Nguyễn Tuân chỉ bộc lộ đậm đặc qua những kiểu so sánh thế này: "Phút long trng nht ca hoa quỳnh là lúc nó đang như bà m rn đ, nó c phá màng hoa mà but được cánh ra. Cánh nó ly by như nhng tiếng thơ còn ngp ngng trên bn tho, phân vân chưa biết mình hin hình ra như thế thì đã va lòng nhà thơ chưa. Hoa Quỳnh n tht mt nhc, tưởng đến long hết r trong chu cây. Quỳnh run run long chong trong đêm đin" (Trang hoa) , hoặc "Ông th roi vào mt trng, ri un hai đu xung, thân roi ưỡn nga mãi lên như như lúc người đàn bà tránh mt cái hôn bo…" (Đi roi)…

Khi cần đặc tả để khắc vào tâm trí người đọc hình ảnh của sự vật, ông dùng so sánh liên tiếp, tới tấp, triệt để gây nên ấn tượng rất mạnh. Đây là khi ông miêu tả tiếng đàn của Bá Nhỡ đánh hầu chủ ấp Mê Thảo: "Tiếng đàn hm hc chng như không thoát hết được vào không gian... Nó là mt cái tâm s không tiết được ra. Nó là mt ni kín bc dc bưng bít . Nó ging như cái trng hung th than ca mt cnh ng vô tri . Nó là nim vang ri qun qui ca nhng tiếng chung tình . Nó là cái dư ba ca b chiu đt chân sóng.  Nó là cái cơn gió chng lt k mành thưa . Nó là s tái phát ca chng tt phong thp vào c cui thu dm d mưa m và nhc nhi xương ty . Nó là cái l lay nhào lìa ca lá b cành . Nó là cái lê thê ca nm m vô danh hiu hiu ngn c vàng so le. Nó là cái oan ung ngàn đi ca cuc sng thanh âm. Nó là s khn nn, khn đn ca ch tơ con phím . Nó là chuyn vướng vít c đi ..." (Chùa Đàn).  Những so sánh dồn dập, thúc ép tình cảm làm cho người đọc nửa thế kỷ sau cũng thấy ấm ức, tức tưởi ngột ngạt, căng thẳng như muốn vỡ tung ra. Những so sánh như thế, phi Nguyễn Tuân ra, thật khó có người nào viết nổi.

7. Nguyn Tuân và li din đt mi l

Nhiều người đọc Nguyễn Tuân cho rằng văn ông cầu kỳ, thậm chí rắc rối trong cách nghĩ, cách viết. Trước cách mạng, chính Nguyễn Tuân cũng đã nhận xét: "Ngôn ngữ ca Nguyn lng cà lng cng, dm dn c như đm vào hng . Đc lên nghĩa ti quá li ông sm Trng. Nguyn c lp ngôn mt cách bướng bnh vì đi nó ngu thế thì không bướng bnh sao được "(Đôi tri k gượng). Như thế cách viết ấy thực ra là một hành vi phản ứng đối với xã hội đương thời. Một mặt nó bắt đầu từ thái độ thù ghét sự nhàm chán, quẩn quanh, tù túng, lặp đi, lặp lại của cuộc sống cũ, mặt khác do sự day dứt, thúc ép của tâm lý sáng tạo. Mới lạ trong cách nói, cách viết luôn hấp dẫn ông, trở thành một nét đậm trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân. Bằng sự lệch chun so với cách viết thông thường, ông đã tạo ra được một giọng điệu rất độc đáo, riêng biệt. Nhiều khi ý trong văn ông không có gì mới nhưng do cách diễn đạt mà người đọc vẫn thấy rất hấp dẫn. Ví như khi ông viết " Trong khi châu Âu khói lửa không có biên thùy và cuc chém giết đó sau này đem chế biến vào tiu thuyết Chiến tranh và hoà bình thì Nguyn Du ca văn hc Vit Nam thung dung đi s sang Bc Kinh. Ri Nguyn Du đưa v nước ta mt nàng Kiu kèm theo 3254 câu thơ " (Chuyện ngh); hoặc: "Pho truyn y dài 2000 trang, bao gm mt cái thiên h 559 con người nhân vt do Tônxtôi chế to ra vì mc đích bo v hòa bình, nht là đ chi bi chiến tranh "(Chuyện ngh); "Chưa bao gi tôi thy sông Đà đen như thc dân Pháp đã đè nga con sông ta ra mà phết vào bn đ lai ch" (Người lái đò sông Đà). Kiểu diễn đạt như thế thực sự mạng lại cho người đọc nhiều điều, ít nhất cũng là sự khoái cảm vì một cách nói mới lạ .

8. Nguyn Tuân đưa khu ng vào văn

 Đọc Nguyễn Tuân thấy văn ông viết cổ kính mà nhiều khi cũng rất hiện đại. Tính chất cổ kính - hiện đại ấy được tạo bởi một mặt ông hay dùng từ Hán Việt để tăng sự trang trọng, mặt khác ông cũng không ngần ngại trong việc đưa khẩu ngữ vào văn. Cái thứ văn nói ấy, Nguyễn Tuân dùng rất chuẩn xác tạo nên một dáng vẻ của riêng ông. Ví như khi ông viết "Nó dùng người Việt đánh cây Việt tươi quý. Đểu hết sy." (Ký của Hoàng Ph Ngc Tường) hoặc "Đất nước mình sinh sắc trù mật quá đi tụi bay ơi ",  “Sau này mà có điều kiện làm cầu tốt, cầu đẹp, thì vứt m nó đi ch tiếc làm gì những cái hình sắng đá ấy trên sông" (Cu ma). Khẩu ngữ hay dùng lối nói tắt, ngắn gọn và hàm súc. Đọc văn Nguyễn Tuân thấy ông hay dùng kiểu ấy, nào là "quốc khánh thống Dim"," tổng Ken Hoa Kỳ", nào là Giơneo, hoặc Đt ... Lối văn khẩu ngữ ấy đã giúp ông viết một cách phóng túng, không bị gò ép, tạo  được những trang văn gần gũi với cuộc sống thường nhật, lột tả hết được sinh sắc của hiện thực. Đây là chân dung của Đèo Văn Long vua Mèo: "Y như cú vọ, qua đâu là hau háu tìm phụ nữ để phát triển các s xòe "( Xòe )...

9. Nguyn Tuân kết cu câu văn linh hot

Sinh thời Nguyễn Tuân rất sợ câu văn "tê thp". Văn ông dài ngắn hết sức khác nhau, tùy theo từng lúc, từng chỗ, từng hoàn cảnh mà buông thả, co cắt. Ông chủ trương "li văn nhiu khp xương, co dui vô tn ", biến hóa khác thường "va rt quy tc va tìm cách phá quy tc "như Phan Ngọc đã nhận xét. Câu văn của Nguyễn Tuân lại rất giàu chất nhạc, chất thơ mà chủ yếu là do ông sử dụng đích đáng những từ láy âm và nhịp điệu trầm bổng. Nhưng câu văn tả vẻ đẹp của trân châu nơi đáy bể này đọc lên không kém bất cứ một câu thơ văn xuôi nào trong văn học Việt Nam hiện đại: "V trân châu xanh hng huyn o, càng nhìn càng thy ưa và thy lng lên cái thm kch ca sinh vt nm dưới rn bin mà vn không chu nguôi lòng tương tư cái ngun sáng ci gc đang b trn sóng trên đnh đu b gãy hết tia chói. Màu v lòng trai tht là kiu dim như màu vàng ca cu vng bc lên t mt thế gii đáy bin vn hoài bão ánh tri"( Cô Tô)

Nhiều khi, bằng phép lặp về cấu trúc ngữ pháp, ông đã tạo nên sự cân đối hài hòa trong câu văn:" Thạch Lam đã làm cho tiếng nói Vit Nam gn gh đi, co dui thêm, mm mi ra và tri đm hơn, đem sinh sc vào tiếng ta" (Thch Lam); "Ba đng mt cái ý tình nh tiếc bng d xanh ch đen, năm đng mt cái t su hoài nn sa tanh ch nhung" (Chiếc lư đng mt cua); " Không bt được r, không ny được chi, không ngm được qu" (Tình rng). Có khi Nguyễn Tuân dùng phép đảo ngữ để nhấn mạnh một cảm xúc và thái độ: " cui truyn bc ra mt cái cười đích đáng" hoặc " Lả lay hin sáng lên mt cái bóng da nghiêng nghiêng tàu lá". Cũng giống như khi ông viết:"Khua im mt bàu sương mui", "Thông thng mt lung hoang di "... Do sự biến hóa của câu văn như thế nên chép văn Nguyễn Tuân hễ rời mắt khỏi từng câu, từng chữ, suy luận theo logic thông thường là sai ngay, đúng như Phan Ngọc đã nhận xét: "Đc văn Nguyn Tuân không ai biết trước câu sau s nói gì ."

 Li kết   

Nguyễn Tuân có một kho tàng ngôn ngữ hết sức phong phú và độc đáo. Toàn bộ gia tài quý giá đó, ông dồn để sáng tạo nghệ thuật, trước hết là sáng tạo ngôn từ. Dù nhìn dưới góc độ nào cũng thấy ngòi bút Nguyễn Tuân tập trung lạ hóa cách viết của mình, cố gắng để tạo nên một vẻ đp chưa có. Với Nguyễn Tuân, ngôn ngữ nghệ thuật linh diệu vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh của cả đời ông. Tiếng Việt như một “khối vuông ru-bích”, dưới bàn tay của người nghệ sĩ ngôn từ họ Nguyễn, khối vuông ấy biến hóa liên tục và dậy hết sắc màu - Màu sắc Nguyễn Tuân .


                                                     Hà Nội, Noel 2011
                                                                     Đ.N.T

                          Nguồn: http://nico.vnweblogs.com/post/11208/346197

lỡ mùa - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) góp ý (5)   

Lỡ mùa

          (viết cho ngày tình nhân 14/2)

 alt

 

Lỡ mùa bói chỉ tay mình

Trăng trôi ra biển, sông tình bỏ quên

Thuyền côi neo giữa ưu phiền

Nụ hồng giạt phía viễn miên rã rời

Lỡ xanh tóc thuở đôi mươi

Hoàng hoa trở giấc, biết vời vợi xa

Sóng chìm mây trắng thật thà

Cỏ bồng rối. Câu thơ nhòa âm mưa.

 

                       14/02/2012

                    Võ Văn Luyến

alt

Tranh Họa sĩ LÊ NGỌC DUY tặng

Xuyến chi xanh - một tiểu thuyết quyến rũ

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Xuyến chi xanh – một tiểu thuyết quyến rũ

 alt

Trong những ngày đầu Xuân 2012, trong khi thị trường sách còn khá trầm lắng thì Nhà Xuất bản Phụ nữ cho ra mắt cuốn tiểu thuyết đầu tay của tác giả Kiều Bích Hậu. Một tiểu thuyết có cốt truyện cuốn hút, với văn phong và từ ngữ quyến rũ lạ lùng. “Một khi đã cầm cuốn Xuyến chi xanh lên đọc, bạn sẽ không muốn rời trang sách nữa. Tôi đã đọc hết cuốn này trong một đêm.” – Biên tập Thanh Bình của NXB Phụ nữ nói.

 

“Sau khi gập trang cuối “Xuyến chi xanh” tôi phải thốt thầm: đây là một tiểu thuyết tình yêu hay và bỗng nhớ đến “Lá diêu bông” của Hoàng Cầm – Một thứ không có thật mà vẫn hiện hữu. Cuốn sách với giai điệu hiện thực huyền ảo, có tiết tấu nhanh, không sa đà vào tình trạng gậm nhấm cảm xúc như ở những câu chuyện tình thông thường.

Các nhân vật chính: Tiểu Khanh, Hiểu, Hàn Vũ, Yến, Tuynh… đều có cá tính riêng, mỗi người một vẻ bước ra “sân khấu” cuộc đời cứng cáp, sinh động.

Những trang phân tích tâm lý sâu sắc, tế nhị vừa mộng mỵ, “ma quái” vừa trần trụi, dữ dội. Chứng tỏ tác giả rất sành sỏi mảng đề tài này và đã từng “mòn guốc” trong những “típ” người như Tiểu Khanh, Hàn Vũ.

Đặc biệt chương 11 viết khá nhuyễn, tình yêu ở đây đã vượt lên tất cả đạo lý, thói quen, xác thịt…ở đời, để hiện nguyên hình bản chất TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC - bao giờ cũng non tơ, trong sáng, lung linh… và nếu thiếu những phẩm chất đó thì chỉ còn là thứ “lắp ghép” từa tựa tình yêu mà thôi.” – Nhà văn Duy Hòa

 

Vậy cuốn tiểu thuyết được cho là rất tình cảm, lãng mạn, tha thiết yêu đương mà lại cũng vô cùng quyết liệt trong thương trường này nói về những chuyện gì?

 

“Hai con người trẻ trung, đẹp đẽ, nhiệt huyết và tha thiết yêu nhau, đã phải vật lộn với thử thách, trải qua những đổ vỡ, mất mát để bảo vệ tình yêu của mình, thì cuộc sống chồng vợ có là đích đến tuyệt nhất?

Một người đàn ông từng trải, giàu có, đầy mưu mẹo và quyết liệt muốn sở hữu bằng được người đàn bà không phải dành cho anh ta.

Một người đàn ông phải giết... chính mình và tình yêu của mình để giữ trọn thủy chung với vợ, thì đó có phải là người đàn ông tội lỗi?

Tình yêu sinh ra từ đâu và chết đi vì cái gì?

Cuộc sống là một sân khấu lớn khi bạn phải đấu tranh từng giây phút để được là chính mình, hay phải diễn một vai khác và từ chối quyền là chính mình.

Tất cả những hy vọng, tất cả những gì lớn lao, đều có thể sụp đổ trong giây lát. Cuộc đời và những điều hệ trọng thực ra thật mong manh. Nhưng đó lại là điều hấp dẫn nhất của cuộc sống.

Bạn sẽ không thể dứt ra được khi bắt đầu đọc “Xuyến chi xanh”...”

 

* Tác giả Kiều Bích Hậu, từng đoạt giải Nhì trong cuộc thi “Truyện ngắn báo Văn Nghệ” tổ chức năm 2007, đã xuất bản 4 tập truyện ngắn. “Xuyến chi xanh” là tiểu thuyết đầu tay của chị, được viết trong 3 năm và chỉnh sửa trong 4 năm. Ngày 25.2.2012, cuốn sách này chính thức được NXB Phụ nữ phát hành trên toàn quốc.

 

mơ - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) góp ý (4)   

  mơ

 alt

Ném thời gian vào lửa

Hỏa táng những nỗi buồn

Trăng xưa về gõ cửa

Bất ngờ gặp nụ hôn!

 

          01/01/2012

             VVL

LAI RAI CÙNG CHÚ EM VÕ VĂN LUYẾN - thơ Võ Văn Hoa

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) góp ý (1)   

LAI RAI

CÙNG CHÚ EM VÕ VĂN LUYẾN

alt

Ly này

Nhớ về tuổi thơ

Anh em ta trong mái ấm gia đình

Nghèo khó thương yêu!

*

Ly này

Nhớ ngày đến trường

Mẹ thổi cơm sớm

Cha đưa các con qua truông Cu Hoan hằng năm trời

Mong con học cái chữ làm người!

*

Ly này

Nhớ con sông chảy qua làng Thi Ông

Những chiều hè anh em tập bơi, tập lặn

Sông đi vào thi ca!

*

Ly này

Nhớ những năm chiến tranh

Đỗ Đại học, em xếp bút nghiên

Đất nước bình yên

Trở về giảng đường yêu mến

*

Ly này

Tạ ơn tổ tiên, ông bà, mẹ cha…

Đã hun đúc, sinh thành chúng ta

Phù hộ độ trì cháu con thành đạt!

*

Ly này

Mừng thế hệ sau bước tiếp

Kế thừa truyền thống cha ông

Thắp ước mơ hồng…

*

Và ly này

Ngưỡng vọng bà con bạn bè 

Động viên và chia sẻ

Con đường xanh tiếng ve…


        VÕ VĂN HOA

Vần tháng giêng - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) góp ý (3)   

Vần tháng giêng

alt

Tháng giêng vào ta, gió lộng trăng ngà đồng xanh sương trắng.

Cúc áo nở bông bèo vẫn trên sông mẹ ta lưng còng gậy cong tay nải.

Này người em gái mà mắt thị thành

                                         mà áo phong phanh ngó sen ngơ ngác.


Tháng giêng vào ta, cò ơi bay xa tìm về với mẹ.

Tuổi thơ thỏ thẻ, chuyền năm chuyền ba,

                                          cỏ gấu cỏ gà chơi trò đánh bắt,

mượn thuyền khoan nhặt câu hát vu vơ,

                                mượn chuyện sông hồ hồn thơ ngụp lặn.


Tháng giêng vào ta, mắt ướt mi ngoan xúng xính đỏ vàng

                                                                 đồng tiền một lúm.

Mấy nụ tươi thắm nở giữa trong veo

                                        buồn chi giàu nghèo xuân cho tất cả.


Tháng giêng vào ta, có mẹ có cha có ông có bà có con cá bống.

Có vườn ươm nắng nhả ngọc bầu trời

                                       có cả chuỗi cười kết thành tràng hạt.

Câu kinh lạc mất ở phía niết bàn,

                                    người gánh đa đoan chất miền trần thế.


Tháng giêng vào ta, bão gần bão xa triều cường lũ cuốn.

Tháng giêng vào ta, hoa cưới phố làng.

Tháng giêng vào ta, lúa cóng bên sông.

Tháng giêng vào ta, mơ ước đòng đòng...

 

                                                                       VÕ VĂN LUYẾN

Xuân khai - thơ Võ Văn Luyến

Thơ Trackbacks (0) góp ý (6)   

  XUÂN KHAI

 alt

NIỀM VUI THÌNH LÌNH ẬP TỚI

HOA XUÂN THAY NẮNG MẮT EM

DUNG NHAN HỒNG TƯƠI , LÁ BIẾC

NGẬP NGỪNG GIÓ LUYẾN LƯU THỀM.

 

                      Sáng 02 tháng giêng Nhâm Thìn

                                Võ Văn Luyến

Về xuân - thơ Võ Văn Luyến

Thơ Trackbacks (0) góp ý (8)   

ĐÓN XUÂN NHÂM THÌN 2012, CHÚC QUÝ ANH CHỊ 

CÁC BẠN AN LÀNH, HẠNH PHÚC VÀ THÀNH ĐẠT!

 

Về xuân

 alt

                                                                      Ảnh: VVL

Nẻo nhớ đường xanh ngày dẫn bóng

Hoa duyên nụ mở sáng trời xuân

Ân sủng theo về tay lóng ngóng

Mây trắng cùng ta lại gieo vần

 

Tim ạ, ngựa hồng xin gửi lại

Hứng chiều năm ngón biếc miền xưa

Im lặng nương chân hiên thơ dại

Nghe tâm thanh gõ nhịp giao thừa!

 

                 Giáp xuân Nhâm Thìn – 2012

                      Võ Văn Luyến

‘Nghệ thuật’ giảm say xỉn trong ngày Tết

Tài nguyên Trackbacks (0) góp ý (2)   

Khoa học

‘Nghệ thuật’ giảm say xỉn trong ngày Tết

Năm mới là dịp để mọi người trong gia đình, người thân và bạn bè quây quần với nhau bên mâm cơm và ly rượu sau những tháng ngày lao động mệt nhọc và ít có dịp gặp nhau trong năm. Tuy nhiên, Ngày Tết cũng là thời điểm mà chúng ta dễ say xỉn nhất vì có nhiều “đại hội”, đó là điều mà tại sao thời gian này sức khỏe thường “xuống cấp”, béo hơn, ngộ độc rượu bia và tai nạn giao thông. Nhưng có một số thủ thuật có thể giúp bạn giảm nguy cơ say xỉn do rượu bia và cách điều trị dễ dàng khi bị say.

 alt

Những bữa tiệc năm mới khiến bạn rất dễ say xỉn nhưng hoàn toàn có thể giải quyết được bằng các mẹo nhỏ.

Ăn trước khi uống

Lời khuyên của các chuyên gia là nên ăn một chút thực phẩm vào bụng trước khi cạn ly. Nó sẽ giúp cồn trong rượu bia không bị hấp thụ nhanh. Ăn thực phẩm cũng làm giảm acetaldehyde trong dạ dày. Acetaldehyde được biết đến là thủ phạm chính gây say khướt. Ăn càng nhiều, khả năng say xỉn càng ít đi vì lúc đó bạn sẽ không uống được nhiều và cơ chế phòng vệ của cơ thể đối với độc tố của rượu bia cũng mạnh hơn nhờ hiệu ứng pha loãng cồn.

Bạn cũng có thể uống một cốc sữa trước khi “zô”. Lý do là sữa sẽ phủ lên da dày “màng bọc” và làm chậm quá trình hấp thụ cồn rượu.

Chỉ uống một loại rượu hoặc bia

Ngày Tết chúng ta có rất nhiều loại đồ uống, từ bia cho tới rượu vang, “quốc lủi”, đến các loại rượu “Tây”. Tuy nhiên, khi đã vào bàn nhậu, bạn chỉ nên theo đuổi một loại đồ uống. Các nhà khoa học cho rằng uống nhiều loại rượu bia khác nhau sẽ làm cho cơ thể bị “tra tấn” bởi những phụ gia (additives), hương vị (flavorings) và những nguyên tố khác ở trong mỗi loại bia, rượu. Điều đó có thể làm tăng khả năng say sỉn và mức độ say nghiêm trọng hơn, đặc biệt là vào ban đêm. Do vậy, hãy chỉ uống một loại duy nhất để khả năng “chiến đấu” của bạn mạnh hơn mà vẫn giảm được mức độ tổn hại sức khỏe.

Uống nước trước, sau và trong khi “nhập tửu”

Cồn trong rượu bia, làm cho bạn đi tiểu nhiều hơn, điều này có thể dẫn đến háo nước. Hãy uống một cốc nước trước, trong lúc và sau khi uống rượu. Điều này sẽ giúp phá vỡ cấu trúc cồn mà tạo ra axit lactic và các loại hóa chất khác gây cản trở sản xuất đường và chất điện phân (electrolyte) trong cơ thể. Đó là điều lý giải tại sao uống các loại nước đồ thể thao trong khi uống rượu sẽ rất tốt. Sau khi uống rượu cũng nên tránh các loại nước có chứa caffeine (cà phê và trà). Cafeine có thể làm bạn tiêu chảy và ngạt mũi khi kết hợp với cồn và làm tăng các triệu chứng khi say sỉn.

Lời khuyên tốt nhất là cứ uống 1 ly rượu thì uống một ly nước lọc và uống khoảng nửa lít nước trước khi đi ngủ.

Chọn đúng loại rượu “tủ”

 alt

Hãy chọn loại rượu khiến bạn cảm thấy dễ chịu nhất khi uống.

Một số nghiên cứu cho biết, những loại đồ uống như whisky, rượu vang... dễ làm tăng khả năng say hơn những loại rượu khác. Mặc dù cần nhiều nghiên cứu nữa để củng cố thông tin này nhưng tốt nhất là bạn phải biết cơ thể khi nào chuẩn bị say để dừng lại kịp thời. Nếu bạn để ý có một số loại rượu thường gây nhức đầu thì hãy chọn loại rượu mà bạn cảm thấy dễ chịu nhất.

Uống một cách từ từ

Mỗi lần uống, bạn nên chỉ uống một vài hớp một chứ không nên uống liền một mạch và buổi tiệc tùng ngày Tết cũng không nên “cà kê” quá lâu. Theo các nghiên cứu, bạn uống càng nhiều trong mỗi lần “zô” thì bạn càng nhanh bị “đo ván”. Trong một giờ, cơ thể chỉ phân giải được 25ml cồn. Lượng cồn không bị phân giải tồn đọng do uống quá nhanh sẽ tràn vào máu và dễ gây ngộ độc (say sỉn).

Ăn thực phẩm rán, chiên

Trước và trong khi nhập tiệc rượu, bạn nên dùng chút thức ăn có chút dầu mỡ (đồ rán, chiên). Cách này giúp bề mặt dạ dày và ruột được tráng một lớp dầu, nhằm giảm lượng cồn hấp thu vào máu qua niêm mạc của hai bộ phận này. Ngoài ra, bạn có thể ăn lòng trắng trứng gà hoặc trứng vịt. Chất albumin của lòng trắng trứng sẽ làm kết tủa cồn trong rượu, giảm lượng cồn hấp thu vào máu, do đó giảm nguy cơ say và ngộ độc rượu. Mặt khác, albumin còn bảo vệ niêm mạc dạ dày trước tác động kích thích, xung huyết, loét… của lượng cồn có trong rượu.

Trong khi uống có thể dùng kèm nhiều loại trái cây hoặc rau như dưa chuột, cà rốt, su su, đồng thời tránh những loại hạt khô như lạc, hạnh nhân vì nó tác động đến dạ dày.

Mở cửa cho thoáng

Khi nhậu bạn cũng nên mở cửa sổ hoặc cửa ra vào để cho thoáng và đón nhận không khí trong lành từ bên ngoài. Điều này giúp oxi hóa cơ thể đồng thời giúp các cơ quan trong cơ thể và tâm hồn hoạt động tốt hơn khi nhậu, từ đó mà cũng giảm được khả năng say xỉn.

Giải quyết sự cố khi say xỉn

Khi vui vẻ, không tìm cách tránh được từ những lời mời nhiệt tình của bạn bè và người thân làm cho bạn say khướt thì bạn cũng cần biết một vài thủ thuật dưới đây để hạn chế những tác động xấu nhất tới sức khỏe do uống quá nhiều.

 alt

Hãy nôn khi cần thiết. Ảnh minh họa.

a/ Hãy nôn khi có thể

Nếu bạn buồn nôn và cảm thấy khó chịu, hãy tìm cách nôn hết ra, sau đó bổ sung nước và năng lượng bằng một ly nước ép trái cây hoặc nước chanh đường, đặc biệt là nước mía. Bên cạnh đó, bạn có thể dùng một bát cháo loãng. Cháo dễ tiêu hóa, khiến bạn không có cảm giác nặng bụng.

b/ Ăn nhiều chuối

Uống nhiều rượu bia làm cho cơ thể bị cạn kiệt lượng kali. Do vậy, ăn chuối hoặc những thực phẩm giàu kali, trong lúc bị say rượu sẽ làm giảm những triệu chứng khó chịu do cơ thể được bổ sung kali và chất điện phân. Bạn cũng có thể dùng các loại nước uống thể thao vì chúng cũng giàu hàm lượng kali.

c/ Uống trà atisô

Theo một công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Anh thì trà atisô (không chứa chất caffein) có thể kích thích sự phục hồi của gan và giúp giải cơn say rượu. Không những thế, loại cây trà này còn có khả năng điều trị chứng khó tiêu, chứng nghiện rượu, bệnh gan mãn tính, bệnh vàng da và nhiều biến chứng khác gây tổn hại đến gan. Trà atisô cũng giàu chất hoá học có lợi cho sức khoẻ, đặc biệt là chất fructoso và axít ascorbic, chất này được biết đến như là vitamin C, giúp cơ thể chuyển hoá nhanh lượng cồn trong cơ thể. Ngoài ra, trà atisô cũng góp phần làm dịu một số triệu chứng của say rượu.

d/ Tăng cường vitamin C

Khi say, hãy uống nước hoặc ăn nhiều đô giàu vitamin C như cam, quýt, bưởi, dâu tây, dứa, cà chua, cà rốt... Hoặc bạn có thể dùng viên C để giúp cơ thể nhận được nhiều năng lượng hơn.

e/ Hãy đi ngủ

Khi bạn say xỉn, sau khi đã dùng những phương pháp trên thì nên trở lại giường và ngủ. Giấc ngủ sẽ làm dịu những triệu chứng của say rượu và giúp bạn tránh được những rủi ro như trúng gió, tai nạn...Và cách làm dịu sự khó chịu là hãy nằm ở phòng tối và đắp khăn mát lên trán.

                                                                      Ngọc Huế (Tổng hợp)

http://www.vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/57370/-nghe-thuat--giam-say-xin-trong-ngay-tet.html

CUỐI NĂM VÀ NẮNG MƯA Ở LẠI - ẢNH VVL

Album ảnh Trackbacks (0) góp ý (2)   

CUỐI NĂM VÀ NẮNG MƯA Ở LẠI

alt

 

alt

alt

DUYÊN HOA (TRƯỚC CHỢ ĐÔNG HÀ)

alt

alt

alt

altalt

alt

alt

CHÂN DUNG VOVANLUYEN - HỌA PHÁP LÊ ĐÀN

alt

THƠ TRÊN BÁO
alt

TẶNG THƠ MỸ CON

alt

 VỚI HỌC TRÒ CŨ

alt

   ĐỒNG NGHIỆP TẤT NIÊN

Ảnh cảm - VÕ VĂN LUYẾN

Thơ Trackbacks (0) góp ý (5)   

 

10

 

Ảnh cảm

            Với cháu Nhật Minh


Hồn nhiên như nắng sớm
Cháu là nụ là mầm
Ngày sáng lên hy vọng
Yêu thương ngời nhân văn


              VÕ VĂN LUYẾN

Thơ VÕ VĂN LUYẾN trên WEBSITE HUYỆN HẢI LĂNG

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   

alt

 

 

Lời chào tháng giêng

tháng giêng búp nõn bàn tay

câu thương ướm gió, chân mày đòi xanh


tháng giêng vội vã buông mành

trăng nghiêng bóng nhớ, mây lành xuống vai


tháng giêng nụ thắm hoa cài

mộng mơ trổ ngọn ở ngoài ngõ hoang


tháng giêng gửi chút đa mang

sông trôi tìm biển, tao khang tìm đời


tháng giêng mười tám, đôi mươi

có người thả tóc nói lời chào xuân.

                           Võ Văn Luyến

 

NGUỒN: http://hailang.quangtri.gov.vn/portlet-params@uP_portlet_action%253Dtrue%2526uP_root%253Dctf1%2526jspName%253Ddetail%25252Ejsp%2526MaCM%253D1%2526MaNT%253D5%2526MaTin%253D597%2526Ngay%253D2012-01-05@portlet-params.tag.38874aea2115a533.render.userLayoutRootNode.target.ctf1.uP

THƠ ĐỀ TRÊN ẢNH VÕ VĂN HOA - Nguyễn Bá Văn ( Bà Rịa - Vũng Tàu)

Album ảnh Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

vo-van-hoa(A)

Thơ sáu tám VÕ VĂN LUYẾN

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   

 

DSC03871

 

Thơ tình thả gió

 

Dễ chừng tôi sợ cuộc vui

Cơn say chóng bốc, ngậm ngùi mau phai

Vãn ngày tôi tìm bóng ai

Ai trong mắt kiến, ai ngoài giọt sương

 

Vòng qua nửa bánh vô thường

Đã nghe vàng đá cuối đường sắc không

 

Dễ chừng tôi sợ đêm hồng

Lang thang ngọn gió bềnh bông bên trời

Lúng liếng à, lúng liếng ơi

Lúng liếng chút nữa tôi rơi mất mình

 

Dễ chừng tôi sợ quân bình

Yêu người yêu nửa trái tim để dành

Một đời khát vọng trời xanh

Xây nên vạn lý trường thành tình yêu.

 

Lỗi của đêm

 Xa nhà ngủ ít thức nhiều

chẳng như cái thuở dám liều đi đêm

ra đường xinh đẹp các em

một câu cợt gió sợ thêm nhầm người

người nhầm mình - giống ma trơi

vai anh giáo thành chuyện cười dân gian

 

thôi thì xin được bằng an

buồn vui mình lại miên man với mình

chữ đến như rùa mới kinh

thế là dang dở đêm tình tự qua

có đâu lấy một tiếng gà

còi xe giục kẻ đi xa lên đường

 

rồi ra như mình nhớ thương

ngổn ngang trăm nỗi, ngại đường giữa đêm!

 

 

TRẦM HƯƠNG CỦA ĐỜI CON

 

Trần lưng với thú ruộng vườn

Tuổi cha đã hoá trầm hương của đời

Nghĩa cao đức trọng cao vời

Có cha soi một góc trời cho con.

 

SÔNG MÊ BẾN LÚ

 

Con sông chở những cơn mê

Ta như bến lú thả thề trôi xuôi

Lấm hương xưa cũng vì người

Quẫy trong nước đục mơ thời rồng bay

 

 

Rỗi ngồi đếm lại tuổi mình

Chân chiều rơi xuống hàng hiên

Tôi và năm tháng gọi tên tuổi mình

Một thời bạch diện thư sinh

Ra đồng mẹ dặn con kênh trước nhà

Nước sâu cuộn xiết tháng ba

Theo bè bạn quên cửa nhà mê chơi

Mẹ về chới với chơi vơi

Còn tôi đuổi bướm trên đồi mộng mơ

Di hoang một kiếp dại khờ

Thắt dải yếm dựng câu thơ trong đời

Bây giờ tôi đếm tuổi tôi

Trắng tóc nửa mẹ, xanh ngời nửa em...

                 VÕ VĂN LUYẾN

HÌNH ẢNH KỶ NIỆM 20 NĂM THÀNH LẬP TẠP CHÍ CỬA VIỆT

Album ảnh Trackbacks (0) góp ý (7)   

 

* Hôm nay (09/01/2012) tại Hội trường Tỉnh uỷ Quảng Trị, Tạp chí Cửa Việt long trọng tổ chức kỷ niệm 20 năm thành lập tạp chí. Đến dự có ông Nguyễn Đức Cường, PBTTU, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị và các đồng chí Lãnh đạo Tỉnh cùng đông đảo Văn nghệ sĩ tỉnh nhà đến dự. Nhà văn Cao Hạnh TBT tạp chí đã ôn lại quá trình hình thành và phát triển tờ Tạp chí văn học quê nhà.Nhiều tham luận đã trình bày . Chủ tịch Tỉnh đã biểu dương những nổ lực của BBT, đội ngũ cộng tác viên trong suốt 2 thập kỷ qua đã đóng góp xây dựng tạp chí ...

Sau đây là một s hình ảnh!

DSC03886

 

DSC03885

DSC03857

Văn nghệ chào mừng

DSC03856

 

alt

 

alt

alt

Lãnh đạo Tỉnh

 

DSC03865

 

Nhà văn Cao Hạnh, TBT TC CỬA VIỆT báo cáo

DSC03863

 

DSC03862

 

DSC03861

 

DSC03880

 

DSC03884

DSC03881

 

Nhà báo Nguyễn Hoàn, Phó Giám đốc Sở TT TT Quảng Trị phát biểu

DSC03878

 VVH và nhà thơ Đức Tiên

alt

 

DSC03875

 

Võ Văn Hoa và nhà văn Xuân Đức

 

alt

Võ Văn Hoa và Lê Đức Dục - phóng viên báo Tuổi Trẻ

DSC03871

 

Nhà thơ Võ Văn Hoa, nhà văn Nguyễn Ngọc Chiến và Võ Văn Luyến


DSC03868

 

Nhà giáo Lê Văn Thạnh, PTP GD& ĐT Hải Lăng,  Võ Văn Luyến,

Nhà báo Lâm Chí Công, Nhà giáo Đoàn Quang Anh, TP GD& ĐT TX Quảng Trị

DSC03895

 

 Bức trướng Tỉnh uỷ tặng Tạp chí

DSC03852

DSC03887

 

Trưng bày

DSC03888


 

DSC03893

 

 

 

DSC03896

 

DSC03897

Trao thưởng

 


 

 

 


 

 

Thơ nhà giáo Nguyễn Văn Giới

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

Một nhà giáo xa quê nhưng đau đáu nỗi quê với một tình cảm thường trực. Anh cùng các đồng hương lập một trang Web mang tên làng mình với mong muốn kết nối những người con làng Lệ Sơn “ly hương bất ly tổ”, hướng về nguồn cội sinh thành. Riêng điều đó không thôi cũng đủ cho chúng tôi trân trọng. Anh là Nhà giáo Nguyễn Văn Giới, Thạc sĩ Ngữ văn, Hiệu trưởng Trường THPT Lê Quý Đôn, huyện ChưPrông, tỉnh Gia Lai. Với tình cảm bầu bạn, anh vừa gửi cho tệ xá VVL một sery thơ, những mong các thi hữu chia sẻ.

 alt

             BẾN QUÊ

 

Xa quê mấy chục năm trời

Sông xưa vẫn chảy một đời nhớ thương

Khóm tre, bến nước, con đường

In vào ký ức vấn vương thuở nào

Trời quê mây nhẹ lên cao

Núi sông hoà quyện lạc vào bến mơ

Sông Gianh nước chảy lửng lờ

Bên bồi bên lở, bài thơ xuôi dòng

Về đây rảo bước thong dong

Có  người ngơ ngẩn để lòng ngẩn ngơ

Bến quê từ bấy đến giờ

Có còn ghi dấu tuổi thơ vui đùa

Trưa hè bơi lặn bắt cua

Vớt rong, chài lưới tiếng khua rộn ràng

Đò về xuôi chợ mênh mang

Đêm trăng hò hẹn trai làng, gái quê

Bến xưa bãi cát, luỹ tre

Em còn gánh nước trưa hè xôn xao...

Thôi anh, ngày tháng qua mau

Thời gian khuất lấp một màu ly hương

Bến quê im lặng vô thường

Đón người xa xứ con đường lá bay

Ngày xưa cho đến hôm nay

Bến quê gắn bó đắm say ân tình !

 

      CẢM ƠN !

 

Cảm ơn ông Trời đưa anh đến với em

Để thấu hiểu thế nào là hạnh phúc

Để đêm về em giật mình tỉnh giấc

Lại nhớ về anh, nỗi nhớ mặn lòng!

 

Cảm ơn cuộc đời đã tặng cho em

Dù muộn màng, dù không còn viên mãn

Dù tình ta không chỉ là lãng mạn

Dẫu biết rằng mình sẽ khổ vì yêu...!

 

Cảm ơn mẹ cha đã chịu khó nhiều

Sinh ra em và dạy nuôi khôn lớn

Để bây giờ  tóc bồng bềnh mây gợn

Để bây giờ em lại biết  thương yêu !

 

Cảm ơn anh vì tất cả mọi điều

Không mặc cảm, không yêu cầu đòi hỏi

Dám can đảm và không hề bối rối

Đã giúp em kiêu hãnh ngẩng cao đầu !

 

 

 THU TÌNH YÊU

 

Thu đến ngọt ngào trên bờ môi

Trời cao, mây nhẹ lững lờ trôi

Mắt biếc ai vừa cười với gió

Hương thơm ngơ ngẩn cả lòng tôi.

 

Cành cao chim hót tiếng thu ơi

Vòng tay siết chặt ấm tình người

Đong đầy yêu mến hoà trong nắng

Thủ thỉ tiếng ai giữa đất trời.

 

Mùa thu êm dịu để chơi vơi

Rượu thu chưa thấm sao rã rời

Nghe trong sâu thẳm tình đôi lứa

Duyên nợ trăm năm đã thề bồi.

 

Trong tiếng thinh không lá vàng rơi

Hồi sinh mầm chảy của muôn đời

Ngày mai xanh thắm màu lá mới

Dệt bản tình ca em với tôi !

P/S Ảnh: HỘI NGỘ TÍCH TƯỜNG

Album ảnh Trackbacks (0) Thêm góp ý   

P/S Ảnh: HỘI NGỘ TÍCH TƯỜNG

Nhân Nhà giáo Hoàng Đức Nghiêm cùng ái thê (chị Mỹ) từ Sài Gòn về thăm, trưa ngày 04/01/2012, tại Khu du lịch sinh thái Tích Tường (TX Quảng Trị), anh em và thân hữu đã có cuộc giao lưu thân mật, ấm áp nghĩa tình. Dưới đây là những khoảnh khắc ghi nhận được:

alt

alt

Toàn cảnh

alt

Trái sang: Các anh/chị Hoàng Đức Nghiêm - Chị Mỹ - Chị Niềm - anh Bình

alt

altalt

 

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

 VVL với Bs Thanh

alt

Tiếp tục hành trình vào Hải Lăng, "hạ hỏa" bằng cháo bánh canh cá trà

 

happy new year!

Album ảnh Trackbacks (0) góp ý (10)   

alt

Hai ngày liên tục đi Hải Lăng dự cưới con của đồng nghiệp, về lăng mộ cha mẹ dâng hương, thăm chị ruột hậu phẩu, thăm các anh chị, các cháu và gặp gỡ bạn bè. Thời gian đủ để thêu niềm vui và dựng dậy kỷ niệm vui buồn một thuở. Ngày tết Tây lại lướt thướt trong mưa và men nồng, tăng tốc ra Đông Hà tổ chức cái sinh nhật mini cho bé Trang Phúc đón tuổi14. Và đây là những tấm ảnh nóng:

alt

alt

alt
alt

alt

alt

alt

alt

alt
alt

                                (sẽ tiếp tục cập nhật ảnh Hải Lăng)

Tự sự trước năm 2000

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   

Tự sự trước năm 2000


Trái tim báo gió lùa đông bắc

Căn nhà  chông chênh, mâm cơm nghiêng lệch

Em hành phương nam, kinh cầu mất ngủ

Câu thơ anh rủ như lá ứa vàng

 

Bõ buồn lang thang khuya trên đường phố

Con ở hai đầu làm mưa nỗi nhớ

Về dưới hiên nhà ôm đàn lại hát

Khói bếp lòng vòng cay lên mi mắt

 

Giở tân thư đọc, chữ nghĩa cô đồng

Chúa về nước chúa, phật vào hư không

Muốn tìm nàng tiên sang trang chuyện cổ

Tỉnh say lỡ dở vai diễn tuồng đời

 

Thế kỷ hai mươi, anh còn khổ lắm

Mồ hôi lấm tấm vác nợ trần ai

Thử cân hồn mình, nhẹ hơn cục đất

Gọi đêm rát họng, đêm hời, có hay?!

 

(Rút trong tập Trầm hương của gió)

          VÕ VĂN LUYẾN

Vĩnh biệt Anh - thơ VVL

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Tin buồn: Anh Dương Quang Lưu đột ngột rời cõi tạm trưa nay (25/12/2011). Người thân, bạn bè và đồng sự của anh vô cùng thương tiếc. Anh nguyên là: Bí thư Huyện ủy Triệu Hải cũ, UVTV Tỉnh ủy – Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Quảng Trị

Anh là bà con cô cậu bên bà xã nhưng đối với mình thân thiện như ruột thịt. Xin thắp một nén tâm hương tưởng tiếc Anh và thành kính chia buồn cùng tang quyến!

 alt

Vĩnh biệt Anh

                 Tưởng nhớ Anh Dương Quang Lưu
                

 

Lặng lẽ như thời gian

Như mộc quý giữa đại ngàn

Chiều nay đổ xuống!



Chiều mang tên một con người độ lượng

Không mê dụ hình tướng

Không vọng ảo thế quyền


Anh là người hiền

Lấy nhân đức hóa giải tị hiềm

Lấy ánh sáng rọi nguồn cơn bóng tối

Lấy vô ngôn thắp lên nụ cười


Biết nói gì, Chiều ơi!

Anh đi thật rồi

Gió ngừng thổi, sông thôi xuôi về biển

Cơn mưa lặng, buốt phía lời hò hẹn

Nén hương này, xin vĩnh biệt Anh!

 

                 25/12/2011

               Võ Văn Luyến

Trường xưa - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Trường xưa

alt
Về thăm mái cũ trường xưa

Thông reo bóng phượng bây giờ còn đâu

Tường vôi ố cũ nhạt màu

Dấu rêu người đã theo nhau lạc loài

Cầm lòng

            nỗi nhớ

                       thương ai

Lẫn vào sương khói nối dài cung mây

Đi trong vọng niệm hao gầy

Tôi thành bóng lẻ tìm ngày gian nan.

 

 

                 12/01/1995

 

MỘT TIỂU THUYẾT THỜI THƠ MỚI CÓ QUÊ GỐC QUẢNG TRỊ

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) Thêm góp ý   

MỘT TIỂU THUYẾT THỜI THƠ MỚI CÓ QUÊ GỐC QUẢNG TRỊ

alt

(ĐỌC “DIỄM DƯƠNG TRANG” CỦA PHAN VĂN DẬT, 1907-1987)

 

Trần Xuân An

 

Được giới cầm bút và người đọc yêu thơ biết đến từ thời niên thiếu (1924), và từ đó, suốt mười mấy năm dài, Phan Văn Dật có thơ đăng trên báo chí. Khi ông bước vào tuổi 28 (1935), “Bâng khuâng”, tập thơ đầu tay của ông, được xuất bản. Hoài Thanh viết bài thẩm định, ngợi khen trên báo (và dăm bảy năm về sau, đưa vào “Thi nhân Việt Nam”, cuốn sách tôn vinh chỉ khoảng trên bốn mươi nhà thơ thuộc trào lưu “Thơ mới”). Nhưng không chỉ thơ, ông còn viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết đầu tay của Phan Văn Dật, “Diễm Dương Trang”, cũng vào năm 1935, lại được khẳng định ngay bởi một giải thưởng danh giá lúc bấy giờ: giải thưởng Tự Lực văn đoàn.

 

Những thông tin ấy, tôi và bạn bè thuở học trò đều biết, nhưng thú thật, rất đáng trách, hầu như không ai tìm tập thơ “Bâng khuâng” và tiểu thuyết “Diễm Dương Trang” để đọc, mặc dù biết rằng chúng nằm đâu đó trong thư viện. Thời chúng tôi còn là sinh viên, thi sĩ Phan Văn Dật chỉ tồn tại trong “Thi nhân Việt Nam” với ba bài thơ trích từ tập “Bâng khuâng”; ông thường được gọi là nhà giáo, giảng viên đại học, nhà nghiên cứu Hán văn và lịch sử. Ông là một vì sao thơ văn sớm tắt, một vì sao đổi ngôi, sáng lên ở góc trời nghiên cứu, giảng dạy. Còn “Diễm Dương Trang” hoàn toàn bị lãng quên!

 

Mãi cho đến những ngày gần đây, tôi quá đỗi vui mừng khi tìm gặp “Diễm Dương Trang”, với dòng ghi chú, “theo bản in trên báo Trung Bắc tân văn, Hà Nội, 1935”. Cuốn tiểu thuyết gần hai trăm trang ấy đã chiếm hết tâm trí tôi... Trước hết, tôi phải tự tìm cách giải đáp cho chính mình về sự quên lãng của người đọc, trong Nam cũng như ngoài Bắc, đối với “Diễm Dương Trang”.

 

1. Tiểu thuyết tâm lí: Quá trình sống lại của hai tâm hồn

 

Đây là cuốn tiểu thuyết thuộc trào lưu lãng mạn, xuất hiện vào những năm đầu giai đoạn cực thịnh của văn chương quốc ngữ theo hệ abc, 1930-1945. Phải một năm sau, 1936, mới bắt đầu cao trào dân chủ ở nước ta, bấy giờ còn là thuộc địa, do sự cầm quyền của Mặt trận Bình dân ở Pháp. Chính trong thời đoạn 1936-1939 ấy, mới có thể nở rộ trào lưu hiện thực phê phán, trên văn đàn công khai (tuy công khai trong cao trào dân chủ, nhưng chiếc kéo kiểm duyệt sắc nhọn, khổng lồ thường xuyên treo lơ lửng trên đầu mỗi nhà văn chương).

 

“Diễm Dương Trang”, vì thế, qua cốt truyện, chúng ta có thể nói, chủ yếu chỉ là một chuyện tình yêu đương. Tuy nhiên, so với tác phẩm văn xuôi của các nhà văn cùng thời đoạn, như Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam..., “Diễm Dương Trang” vẫn có nét độc đáo ở khía cạnh chủ đề, bên cạnh bối cảnh là bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng và ngoại ô kinh đô Huế. Mặc dù Nhất Linh, Thạch Lam đều là người gốc Quảng Nam, nhưng bối cảnh tiểu thuyết, truyện ngắn của hai tác giả nổi bật này vẫn là Bắc Bộ. Khái Hưng thì đã đành là rặt Bắc Bộ rồi! Mặt khác, tình yêu đương nam nữ trong văn xuôi của các tác giả ấy được đào sâu, thể hiện ở khía cạnh khác với Phan Văn Dật. Nói cách khác, “Diễm Dương Trang” có cùng đề tài là tình yêu đương nhưng lại khác hẳn về khía cạnh chủ đề, so với “Hồn bướm mơ tiên”, “Đoạn tuyệt”...

 

Thi sĩ đồng thời là nhà tiểu thuyết Phan Văn Dật đã khai thác đề tài yêu đương ở tình huống đặc biệt, để tác phẩm thật sự có nét độc đáo. Hai nhân vật chính đều đang ở trong trạng thái trầm kha về bệnh tâm lí, cần đi an dưỡng, và họ đã gặp nhau ở bãi biển Mỹ Khê. Tuy thế, căn bệnh tâm lí của hai người vẫn khác nhau. Ở Trang, đó là nỗi đau cùng cực của một kẻ bị phụ tình. Dinh, người yêu của Trang, đã phũ phàng dứt tình với anh ta để đi đến hôn nhân với một người danh giá hơn Trang về bằng cấp học vấn và địa vị xã hội. Trong sự tổn thương vì bị phụ tình của tâm hồn Trang, còn có nỗi tự ái bị xúc phạm. Ở Nga, cô gái ấy không khổ đau vì bị phụ tình, mà khổ đau vì người yêu sớm qua đời. Người nữ Việt Nam ngày xa xưa và ngay thuở bấy giờ, trong trường hợp đó, thường là họ tự chít khăn tang lên trái tim mình, tự biến trái tim mình mãi mãi thành bàn thờ với hình ảnh người đã khuất. Nhưng, dẫu chỉ xét trên mẫu số chung của con người, không phân biệt bản sắc văn hoá dân tộc, thì cũng có ai lại không khổ đau trong tình cảnh đó!

 

Nếu cho rằng di chứng bệnh sốt rét ở Trang không đáng kể, thì Trang và Nga đều chỉ là hai bệnh nhân tâm lí. Họ không hẹn nhau, nhưng cùng tìm cách chữa bệnh cho chính mình, theo kiến thức y học phổ thông thuở bấy giờ, bằng cách thoát ra khỏi khung cảnh cũ, không gian sống thường ngày, để tìm đến với thiên nhiên, sóng biển và không khí trong lành. Với tâm cảnh của mỗi người, hẳn mọi cảm xúc đều héo úa. Ở họ, tình yêu khó đâm chồi, nẩy lộc. Trong trường hợp như Trang, có người vĩnh viễn căm thù phụ nữ. Đối với Trang, bệnh trạng nhẹ hơn, anh ta chỉ sợ hãi tình yêu đương, sợ hãi thất bại, cự tuyệt. Trang lâm bệnh mặc cảm tự ti, không những tự ti khi nghĩ đến địa vị người chồng của Dinh, mà tự ti với cả Thạch, người sắp là ông “đốc-tờ”, nhưng sớm mất. Thạch của Nga đã chết, nhưng chừng như vẫn còn đó. Trang đến sau Thạch, lại kém sút Thạch quá nhiều! Trang chỉ là viên thư kí quèn, là viên thầu khoán tập tành, phải chung vốn với người nhiều vốn hơn. Còn giấc mộng thi sĩ của Trang cũng bị cả viên tham tá Hồng chế giễu!... Tác giả không gọi hẳn ra căn bệnh của Trang còn là mặc cảm tự ti, nhưng sự rụt rè, nhút nhát thái quá ở Trang, đến mức ta thấy Trang thật tội nghiệp, mặc dù vẫn trân trọng anh... Và cảm thấy thương Trang nữa, như Oánh cùng bà Nghè Thuyên đã phải mớm lời cho Trang, để Trang đủ mạnh dạn ngỏ lời với Nga!... Nhưng dẫu sao, Trang không bị chút áp lực xã hội nào khi anh ta dấn bước vào cuộc tình mới. Trang đâu phải là người phụ tình, ruồng rẫy Dinh! Trang có quyền tìm kiếm tình duyên mới. Còn ở Nga? Dĩ nhiên Nga cũng chẳng tội tình gì. Nhưng văn hoá Việt Nam thuở bấy giờ vẫn rất ngưỡng mộ những người con gái, trong trường hợp như Nga, biết để tang người yêu mới khuất. Như đã nói, con người dân tộc nào cũng thế, thời nào cũng thế, nhưng trong không gian văn hoá Việt thuở đó, lòng thuỷ chung vốn rất được đề cao. Chính sự đề cao ấy mặc nhiên đã trở thành một ràng buộc, áp lực có tính chất đạo đức, và người ta cảm thấy vinh dự khi giữ được lòng thuỷ chung cao quý như vậy.

 

Có thể nói, ở cả Trang lẫn Nga, tâm hồn họ đều đã héo hon, đều đã chết, bởi hai vết thương tình duyên khác nhau. Và suốt cả cuốn tiểu thuyết là cả một quá trình sống lại của tâm hồn hai người. Người đọc nếu đặt mình vào không gian và thời gian văn hoá thuở bấy giờ, mới có thể thấu hiểu được họ.

 

Tiểu thuyết “Diễm Dương Trang”, với sự triển khai dần cốt truyện của tác giả, đã cho người đọc thấy rõ quá trình ấy, với những ngộ nhận ngẫu nhiên gây ra không ít khổ đau, có lúc tưởng chừng hoàn toàn tan vỡ, nhất là sự xuất hiện của người thứ ba – viên tham tá Hồng –, kẻ có thể một lần nữa giết chết tâm hồn của cả hai người. Thi sĩ Phan Văn Dật, ở lĩnh vực tiểu thuyết, tỏ ra ông còn là một nhà văn tinh tế, sâu sắc về tâm lí, cụ thể là các diễn biến tâm lí, và ông để cho nhân vật thể hiện các trạng thái tâm lí của mỗi người trong những cử chỉ, dáng vẻ, lời nói ở nhiều tình huống khác nhau.

 

Cùng với dấu chấm lửng cuối cùng, câu áp cuối của tiểu thuyết “Ta liệu có gây nổi hạnh phúc cho nhau không?” là một câu kết nhưng lại mở ra các hướng khác nhau: một gia đình đầm ấm, sáng tươi hay lạnh băng, tăm tối?

 

Tôi nghĩ rằng, chính nhờ biết khám phá, khai thác khía cạnh này trong đề tài lớn là tình yêu đương, nên giải thưởng danh giá Tự Lực văn đoàn đã được trao cho Phan Văn Dật.

 

2. Bối cảnh tiểu thuyết: Nền nếp xưa và sự hãnh tiến của lối sống tân thời

 

Phan Văn Dật là thi sĩ, nhà văn xuôi thuộc khuynh hướng lãng mạn, tuy có ý thức vươn tới những giá trị mới, đương thời, nhưng ông cũng đồng thời thể hiện sự luyến tiếc, giữ gìn, trân trọng những nền nếp văn hoá nghìn đời của dân tộc. Ở bà Thị Tốn, mẹ của Trang, cũng như ở bà Nghè Thuyên, mẹ của Oánh và Nga, hình ảnh người mẹ Việt Nam được thể hiện rõ. Họ là tiêu biểu cho bản sắc nghìn xưa, nhưng không hề cổ hũ. Bà Thị Tốn cũng chỉ thuộc tầng lớp trung lưu, từng suýt lao đao ở bờ vực của nghèo khổ, đã bản lĩnh vượt lên. Bà Nghè Thuyên dù có trang trại, nhưng cũng chưa được gọi là điền chủ. Sự sung túc hiện tại là nhờ Oánh làm nghề thầu khoán. Ở Nga cũng thể hiện nền nếp gia phong đáng quý, đặc biệt trong quan hệ với Trang. Và hầu như Phan Văn Dật, về phương diện này, không gần gũi với những tác giả hiện thực phê phán cùng thời, đặc biệt là trong thời đoạn 1936-1939... (nói như vậy, cũng cần thấy Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao phê phán những địa chủ đáng phê phán, chứ không phải như bà Nghè Thuyên). Tuy thế, mặt khác, Phạm Văn Dật lại gần gũi với khuynh hướng văn học hiện thực phê phán ấy, khi hướng ngòi bút của mình vào đối tượng viên chức hãnh tiến của guồng máy thực dân hay người tư sản hãnh tiến. Tác giả không phê phán cả thành phần, mà chỉ khu biệt những cá nhân hãnh tiến mà thôi.

 

Phan Văn Dật khắc hoạ nhân vật bằng đối thoại, nét mặt:


“... - Kìa anh Trang, hồn thơ gởi đâu mà ăn lơ lửng thế?

Oánh làm bộ rầy chàng, rồi lại muốn khoe bạn cùng quý khách:

- Anh Trang tôi đây ngoài các công việc kinh dinh ra lại còn là một nhà thi sĩ.

Hồng, ông khách tuổi trẻ, trừng mắt một cái rất nhanh, ra dáng hoài nghi, nhưng chẳng để ý gì đến Trang, sẽ đạo mạo nói:

- Nếu thật xứng với cái danh hiệu ấy thì còn gì hay bằng!

Lại sợ chưa bày tỏ đủ ý kiến mình, liền nói tiếp, giọng mỉa mai, dằn từng đoạn một:

- Phải, cũng có thi sĩ và thi sĩ... Nếu chỉ thuộc đôi chút lề lối, biết qua một mớ niêm luật, xin chớ vội tưởng mình là thi sĩ. Phải có thiên tài, cái đó là lẽ cố nhiên; tình cảm phải cho dồi dào, nhưng cũng chưa đủ; còn cần phải học, học cho có hàm súc, cho có nhiều công phu; mới mong viết một lời nghe được. ‘Muốn thì được’, chỉ là một câu nói để khuyến miễn người đời, không thể dùng về trường hợp nầy...”.

 

Khi Oánh chân tình giới thiệu về bạn mình là Trang với niềm tự hào, viên tham tá Hồng ngay lập tức phơi bày bản chất kém lịch sự, thiếu văn hoá của y. Y không những bộc lộ sự ganh ghét nhỏ mọn bằng “đòn đánh phủ đầu”, ngạo mạn “lên lớp, dạy dỗ” Trang, một người mới gặp lần đầu, mà còn cả sự thiếu tôn trọng Oánh. Tham tá Hồng quả thực là một tên hãnh tiến, quên bẵng mình là nô lệ của thực dân!

 

Còn đây là một đoạn hoạt hình biếm hoạ về nhân vật Cửu Bạch:

 

“... Ông Cửu Đùm nãy giờ nghe bạn tri kỉ của mình nói, vừa hiểu được mấy câu sau, liền vội ngắt lời Hồng:

- Ngài Tham nói quả là chí lí! Tôi tuy quê mùa, học vấn còn kém cỏi lắm, nhưng cũng phải biểu đồng tình về sự đó. Hồi tôi mới ra đời, lăn lộn mười năm, đủ từ Nam chí Bắc, từ Lào sang Mên, chẳng nơi nào là không đến, chẳng nghề gì là không làm, mà trắng tay vẫn hoàn tay trắng. Mãi sau về đây buôn bán vụn vặt, cho thuê xe, cho vay tiền góp sơ sài mà mới gây dựng ra cái gia thế ngày nay. Ai dè bôn tẩu không nhằm chi, về nằm co lại tự dưng có của cải, mới biết lời tục không nhầm, có an cư mới lạc nghiệp!

Ông Cửu nói đến đó, liền buông một chuỗi cười dài, xoè cả cây quạt rộng bằng nửa cái nia, vung phành phạch. Ông cất cốc rượu, ngả người ra, nốc một hơi rồi mới ngó tất cả mọi người thử có chịu mình là một bậc lão thành lịch lãm.

Thấy Hồng cứ gật đầu, ông Cửu Đùm thích chí vểnh bộ râu tôm, ngất ngưởng kết luận rằng:

- Phải, trong mười mấy năm trời tôi phong trần đã lắm. Những mùi đắng cay mặn lạt ở đời tôi đều nếm qua, nên phàm việc gì cũng gọi là lịch thiệp. Bây giờ nhờ ơn trên đã được dư ăn dư để, nhưng vâng lời ngài Tham tôi còn muốn đem những chỗ biết hẹp hòi của mình ra gánh vác việc đời cho khỏi phụ lòng anh em mong đợi.

Nói dứt lời, ông Cửu đưa tay nắn lại cái vành khăn, chỉnh nét mặt, có ý làm ra vẻ nghiêm trang cho xứng với cái trọng trách mình sắp ra đảm nhận...”.

 

Phan Văn Dật tiếp tục phê phán người tư sản hãnh tiến này:

 

“... Nên mỗi khi ông xét đoán, phê bình về một người nào, tất ông lại lấy tư bản ông làm mực thước. Ai giàu hơn ông là người ấy giỏi mà ai kém ông là người ấy còn vừa, chí như những hạng nghèo kiết, thì dẫu ông không dám nói ra, trong bụng chỉ coi là đồ ương gàn, không đủ mà đếm xỉa. Nhưng người hơn ông đâu có nhiều, ra đường chỉ rặt là kẻ ăn làm đầu tắt mặt tối, thành thử ông hay có cái bộ khinh khỉnh, coi người bằng nửa con mắt. Tuy vậy ông Cửu không phải chỉ giao du với các nhà tư bản thôi, vì ông đã giàu rồi lại muốn sang, nên hễ gặp ông tai to mặt lớn nào là ông bắt quàng làm thân ngay. Sau hai bận đi Huế, người ta đã thấy trước ngực ông lủng lẳng chiếc bài ngà hàn lâm viện đãi chiếu. Về việc đó ông cứ phàn nàn mãi: "Nhà nước quá yêu mà ân tứ cho thế nầy, chớ thật tôi nhờ trời đủ bát ăn, có dám màng đâu danh vọng ". Ông dẫu nói vậy, vả lại vừa làm lễ tam sanh ăn ngũ tuần, nhưng vạn bất đắc dĩ phải chìu lòng anh em trong xóm mạc, ăn khao hết ba bò tám heo, rước đám hát đằng đẵng nửa tháng trời. Lắm người đã khen là ông tính việc gì cũng chu đáo lắm. Nhưng ông Cửu lại tiếc mình có tài năng nên ông còn muốn ra làm hội đồng thành phố. Muốn cho có vây cánh, ông bèn chơi thân với ông tham Hồng là người có thể giúp cho ông nhiều về việc ấy. Sắp đặt đã xong đâu đấy, ông chỉ còn phiền cái tên ông nó không có giọng quý phái chút nào, ông bèn nghĩ đổi ngay nó ra là Bạch. Nhưng dẫu danh thiếp ông gởi đi khắp thành phố, nhan nhản đề cái tên Cửu Bạch, thiên hạ cũng cứ quen mồm gọi ông là ông Cửu Đùm vậy. Ông biết thế, không vui lòng chút nào...”.

 

Bên cạnh một Nga thuỳ mị, dịu dàng, chung tình nhưng cũng biết vượt lên sự bất hạnh trong mối tình đầu để sống, xây dựng hạnh phúc một cách chính đáng, là hình tượng cô gái tân thời, nữ sinh Đồng Khánh tên Trà, con gái ông Cửu Bạch. Thật ra, Trà cũng không có gì đáng ghét. Cử chỉ giao thiệp của cô khá bình đẳng, tự nhiên, nhưng chưa đến mức lố lăng. Cách ăn mặc, trang sức ở Trà cũng kín đáo, trang nhã.

 

3. Sự phản đối khéo léo chế độ thực dân: Chút lầm lạc hiển ngôn và sự phản biện ẩn ngôn xuyên suốt

 

“Diễm Dương Trang” rõ ràng là tiểu thuyết về tình yêu đương và hôn nhân. Tuy nhiên, nếu chưa kịp hiểu ẩn ý của tác giả, người đọc hẳn sẽ cảm thấy bất bình thật sự, thậm chí muốn ném cả cuốn sách gần hai trăm trang này vào lửa, thiêu huỷ nó đi, khi đọc phải một đoạn ngắn khoảng dăm bảy câu văn:

 

“Trang còn đương loay hoay nghĩ thế thì đã đến nơi nghĩa địa của mấy người lính thủy Tây Ban Nha. Đứng trước các ngôi mộ ấy, chàng bỗng hồi tưởng lại cái khí tượng hào hùng của những kẻ xông pha trên mặt bể hiểm nghèo, những kẻ đó có lẽ coi nhẹ cảnh gia đình êm ấm. Cách sinh hoạt éo le của hạng người ấy, trên sóng, đầu gió, có một cái khí vị ngây ngất, phi thường... Trang bấy giờ nhận thấy cái ái tình nó nhỏ nhen quá. Ở đời còn thiếu chi sự nghiệp lừng lẫy đủ kích thích chàng? Hồi nhỏ đi học, chàng có nghĩ rằng đến lúc trưởng thành sẽ để tiêu trầm nghị lực trong chốn tình trường chăng?”.

 

Trang tỏ ra lầm lạc, trong khi anh ta thừa vốn liếng tiếng Pháp để có thể đọc, hiểu được đó chính là nghĩa trang của những tên thực dân Tây Ban Nha và Pháp, trong cuộc đánh chiếm mở đầu quá trình xâm lược thực sự của chúng trên đất nước ta, vào các năm 1858-1860, tại Đà Nẵng. Tại sao Trang lại ca ngợi chúng với những tính từ kêu vang đến thế? Thậm chí, chúng ta có thể kinh ngạc tự hỏi, tại sao thi sĩ Phan Văn Dật lại đặt ý nghĩ lầm lạc đến mức như thế vào chuỗi suy tư, tâm trạng trăn trở chân thành, thầm kín của nhân vật mà ông không giấu lòng yêu mến?

 

Tôi đã đọc, với sự sửng sốt, khi gặp phải những dòng chữ ấy, và cũng toan ném hoặc xé cuốn sách đi. Thế rồi, tự nhủ phải nhẫn nại, xem sao. Cuối cùng, tôi bình tĩnh đọc tiếp, và thấy rằng, đoạn văn trên quả là quá lạc lõng trong toàn bộ cuốn tiểu thuyết, như thể ai đó ác ý thêm thắt vào.

 

Ai cũng biết, tuy dưới ách thực dân Pháp cai trị và thế lực giáo quyền của các cố đạo Tây Ban Nha còn bao trùm, nhất là ở thời điểm tiểu thuyết “Diễm Dương Trang” ra đời, các thông tin về lịch sử xâm lược, thống trị nước ta đã dần dà hé mở. Ai cũng biết, từ năm 1921, cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim đã được ấn hành. Thế nhưng, nhân vật Trang của thi sĩ, nhà văn Phan Văn Dật lại lầm lạc đến mức không thể nào chấp nhận được!

 

Và, thật ra, ai cũng biết tác giả có quyền để cho nhân vật của mình ngu ngơ, mù mờ về kiến thức lịch sử, trong một thoáng ý nghĩ thôi, để rồi tác giả phản biện lại chút lầm lạc ấy bằng cả cuốn tiểu thuyết. Sự phản biện ấy lại nằm ở tầm sâu của bản chất nhân vật. Trang không thích, không muốn ở trong guồng máy nhà nước thực dân Pháp. Anh ta cực chẳng đã phải chịu làm việc tại Toà Công sứ Pháp ở một tỉnh trên cao nguyên để cứu lấy gia đình trước bờ vực nghèo đói, thất học, và nhanh chóng xin thôi việc, lao vào công việc lãnh hành (thầu khoán), một nghề tự do bên ngoài guồng máy của Pháp. Trong thâm sâu của bản chất Trang, đâu phải chỉ vì bị phụ tình hay chút tự do của người ôm mộng làm thi sĩ, mà anh đi đến quyết định ấy. Và chúng ta còn thấy, Trang rất mực yêu quý, kính trọng gia đình của cụ Nghè Thuyên, một nhà nho đỗ đại khoa, không muốn bị vấy bẩn cốt cách mình, tuy cũng chỉ là một người yêu nước thầm kín, bất khả kháng, ngậm ngùi xuôi tay, lánh đục về trong, trước thời cuộc: “Trang bấy giờ mới biết rằng ông Nghè Thuyên xưa, dù là một nhà tấn sĩ xuất thân, nhưng vì tánh tình phóng khoáng, quả hợp, lại gặp thời buổi khó khăn, sợ liên lụy đến mình, nên chẳng chịu ra làm quan; lại nhờ nhà có tiền của nên mới trưng sở đất ấy mà lập nghiệp. Trước, chỗ ở còn là cái nhà rường, ông Nghè đặt tên cho nó là "Diễm Dương Trang". Đến sau ông qua đời rồi, Oánh làm ăn mỗi ngày mỗi phát đạt thêm lên, mới bỏ cái nhà ấy đi mà cất lại sở lầu mới bây giờ, nhưng cũng vẫn dùng cái tên cũ”. Con trai ông, Oánh, cũng thế: “Oánh tuy là dòng dõi nhà nho, nhưng chẳng chịu dấn thân vào đường sĩ hoạn”.

 

Nếu chúng ta đồng ý với nhau rằng, chính tính khuynh hướng của toàn bộ cuốn tiểu thuyết mới thể hiện đúng tư tưởng của tác giả, như F. Engels đã nói, thì rõ ràng cả cuốn sách gần hai trăm trang có tên là “Diễm Dương Trang” này có sứ mệnh chính là mang chứa thông điệp bất hợp tác với chế độ thực dân Pháp, thể hiện thái độ, khát vọng lánh đục về trong của chính thi sĩ, nhà văn Phan Văn Dật.

 

Nói cho rốt ráo, riêng ở nhân vật Trang, có thể anh ta thực sự sai sót về nhận thức lịch sử, cụ thể về nghĩa trang Tây Ban Nha – Pháp ở Sơn Trà, nhưng bản chất anh ta lại đúng đắn đến mức đáng quý trọng. Nhân vật Trang, thậm chí, nếu quá khắt khe, ta cũng có thể quy anh ta vào loại người mang tâm lí, nhận thức lưỡng phân. Đó là loại tâm lí, nhận thức của những người sống dưới chế độ thực dân Pháp cai trị, mặc dù nhận thức có lệch lạc, mù mờ ở điểm nào đó, nhưng trên bình diện tổng thể, vẫn nhận thức được thực trạng mất nước của dân tộc mình, và trong thâm tâm, tận chiều sâu bản chất vẫn không bao giờ chấp nhận làm tay sai, nô lệ cho chúng.

 

Đó cũng chính là sự khôn khéo kín đáo của Phan Văn Dật trên văn đàn công khai.

 

Tôi cũng muốn nhấn mạnh một lần nữa: Đó là chút lầm lạc hiển ngôn (trên văn bản tiểu thuyết, đặt trong chuỗi suy nghĩ của nhân vật), nhưng cả cuốn tiểu thuyết là sự phản biện ẩn ngôn xuyên suốt (tính khuynh hướng của trọn vẹn tác phẩm), thể hiện thái độ, khát vọng bất hợp tác, lánh đục về trong của nhân vật và cũng của tác giả, cho dù ở dưới guồng máy cai trị của thực dân Pháp.

 

Và có lẽ để hiểu thêm, cảm thông thêm với nhân vật như Oánh, Trang và cả tác giả Phan Văn Dật, thiết tưởng cũng cần bàn thêm: Nếu đất nước độc lập, ý muốn tiến thủ trên quan trường, để tích cực góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước, không phải là không chính đáng. Vấn đề ở tiểu thuyết này là thực trạng đất nước còn trong vòng nô lệ, dưới ách thực dân. Trong bối cảnh bất khả kháng, thái độ, khát vọng bất hợp tác, lánh đục về trong mà “Diễm Dương Trang” chuyển tải, vẫn rất đáng trân trọng.

 

Nhìn chung, “Diễm Dương Trang” tuy là cuốn tiểu thuyết đầu tay và cũng là duy nhất của nhà thơ Phan Văn Dật, nhưng về kết cấu, cốt truyện và các chi tiết được sử dụng đã khá già dặn. Những tình huống được xếp đặt khéo léo, tự nhiên như thể tất yếu phải xảy ra như thế. Qua đó, nội tâm nhân vật, đặc biệt là các diễn biến tâm lí, được bộc lộ rõ nét. Về tính cách nhân vật, ông đã chú trọng khắc hoạ để các nhân vật nổi rõ như những con người thật, có cá tính, không chung chung, mờ nhạt.

 

Trong tiểu thuyết “Diễm Dương Trang”, tác giả có chủ ý sử dụng một số phương ngữ Huế - Quảng Trị (chưa kể một ít từ cổ, bấy giờ còn thông dụng...). Điều đó khiến cho tác phẩm có thể hơi vướng chỗ này, chỗ nọ, đối với một số người đọc chưa quen với những từ địa phương vùng đất này. Tuy vậy, chính những từ ngữ mang màu sắc địa phương khiến tiểu thuyết “Diễm Dương Trang” tạo được ấn tượng nhất thể giữa bối cảnh địa lí, khung cảnh xã hội địa phương và ngôn từ mang bản sắc địa phương ấy. Đó không phải là tiểu thuyết viết về những người Bắc Bộ hay Nam Bộ sống ở Huế, mặc dù Huế vốn là kinh đô (vẫn còn là kinh đô ở thời điểm đó), nên đất Huế không thiếu người từ khắp toàn quốc đến sống, làm việc và chọn Huế làm quê hương! Dĩ nhiên, như bất kì tác giả sinh trưởng ở bất cứ vùng đất nào trên đất nước, Phan Văn Dật cũng đã tiết chế, giảm đến mức vừa đủ liều lượng từ ngữ địa phương, để vừa giữ màu sắc địa phương, vừa hoà nhập vào ngôn ngữ phổ thông với tính nhất thống toàn quốc.

 

Vượt lên kĩ thuật, nghệ thuật vẫn là sự độc đáo, khá sâu sắc khi khai thác một khía cạnh đặc biệt trong tình cảm yêu đương và thông điệp của tiểu thuyết “Diễm Dương Trang”.

 

Với bài viết này, tôi đã mạnh dạn đề xuất một cách cảm thụ tiểu thuyết “Diễm Dương Trang”, với hi vọng nó sẽ được tái bản, không tiếp tục bị chìm vào quên lãng. Ít ra, trong những tiết học về văn học địa phương, các buổi sinh hoạt ngoại khoá tại quê nhà Quảng Trị, tiểu thuyết của thi sĩ Phan Văn Dật, từng chói sáng trên văn đàn cả nước cách đây 76 năm (1935), sẽ được các nhà giáo bình giảng, học sinh thuyết trình, thảo luận (*). Trong những lúc đó, xin đừng quên rằng Phan Văn Dật đã dành một quãng đời khá dài để nghiên cứu Hán văn và lịch sử, đạt được một mức độ uy tín nhất định trong giới học giả...  

 

TXA.

09:20 – 20:47, 14-12 HB11

& chiều 15-12 HB11

_________________________

 

(*) Cụ thể hơn, ở tiểu thuyết “Diễm Dương Trang”, có thể đoạn lầm lạc trong suy nghĩ của nhân vật Trang sẽ phải được ghi chú cải chính, theo yêu cầu khoa học, để bảo đảm thông tin đã được cải chính, đồng thời bảo đảm tính toàn vẹn của văn bản – tư liệu.

 

Thông tin về bản gốc và sách tham khảo:

1) Phan Văn Dật, “Diễm Dương Trang”, Trung Bắc tân văn, Hà Nội – 1935. Bản gốc có ở Thư viện quốc gia tại Hà Nội (xem trang thông tin điện tử).

2) Nhiều tác giả, “Từ điển văn học”, bộ mới, Nxb. Thế Giới, 2004, tr. 1399-1401 (mục từ “Phan Văn Dật” do Phạm Phú Phong viết).

 

Phụ đính: Cốt  truyện:

 

Phan Văn Dật theo lối viết tiểu thuyết khá hiện đại của thời bấy giờ, nên chúng ta có thể thấy câu chuyện được diễn biến chủ yếu theo trình tự thời gian nhưng vẫn xen vào những chương đoạn hồi ức, nhằm làm sáng tỏ những góc khuất trong tâm trạng, bước ngoặt cuộc đời của nhân vật.

 

Câu chuyện bắt đầu ở bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng. Trần Hoài Trang, một thanh niên khoảng chừng 25, 26 tuổi, đang trong những ngày phục hồi, bồi dưỡng sức khoẻ, sau những trận ốm sốt rét và bởi vết thương trong tâm hồn. Đi cùng với Trang là cậu bé giúp việc tên Cồ, trước kia người ta hay gọi là tiểu đồng. Trên bãi biển Mỹ Khê này, anh ta tình cờ gặp hai mẹ con, người con là cô gái còn trẻ nhưng đang mang tâm bệnh. Tình cờ anh cũng gặp được Oánh, bạn cũ. Oánh chính là con trai của người mẹ kia, anh trai của cô gái nọ: bà Nghè Thuyên và cô Tư Nga. Câu chuyện lại quay về quá khứ, cho người đọc biết: Trang vốn là một lưu học sinh trường trung đẳng ở Hà Nội, vì cha đột ngột mất, nên phải về Huế, đành đoạn bỏ học dở dang, nộp đơn xin đi làm, để có đồng lương giúp mẹ và hai em. Trang được bổ đến Toà Công sứ tại một tỉnh cao nguyên, với vai trò nhân viên thư kí. Nhưng khi gia đình đã tạm ổn với cửa hàng buôn bán nhỏ, Trang muốn thôi việc, để sống cuộc đời một người hành nghề tự do. Chắc hẳn anh ta không muốn bị ràng buộc vào guồng máy nhà nước thực dân. Và còn bởi một lẽ khác, Trang đang nuôi mộng trở thành thi sĩ. Nhưng phải đến khi Trang nhận được thư phụ tình của Dinh, cô bạn từ thuở bé và hiện là người yêu của Trang, Trang đau đớn tột cùng, quyết tâm bỏ việc ở Toà Công sứ để đi chung vốn làm lãnh hành (thầu khoán). Anh bị sốt rét ngã nước trong những tháng ngày lãnh hành này. Và hiện tại, ở bãi biển Mỹ Khê, anh đang tự chữa cả hai căn bệnh cùng một lúc: tâm bệnh và thể bệnh. Qua những lần gặp gỡ trên bãi biển, Trang thầm yêu Nga. Qua cậu bé Cồ, Trang biết Nga cũng đang đau khổ đến mức trở thành tâm bệnh, vì người yêu là Thạch, sinh viên trường thuốc, vừa mới chết vì bệnh. Trong những ngày Oánh ở đó, lại có thêm hai nhân vật xuất hiện: ông Cửu Bạch cùng viên tham tá trẻ tên Hồng. Tham Hồng cũng bị goá vợ cách đây mấy năm. Tham Hồng chừng như cũng muốn tục huyền với Nga. Trong tình huống đó, Trang xem ra lép vế nhất, nhưng chính Nga lại tỏ ra có cảm tình với Trang nhiều hơn. Tuy vậy, Nga vẫn đang ở trong giai đoạn khổ đau vì mất Thạch, lòng lạnh giá. Lại một tình huống nữa: Oánh mời cả nhà và Trang đi chợ đêm Đà Nẵng. Nhưng Nga đang ngụp lặn trong trạng thái chợt vui chợt buồn của một người sầu khổ, Nga không muốn đến những chỗ đông người. Ngờ đâu, khi Trang vào chợ đêm ấy, lại gặp viên tham tá Hồng đang đi cùng gia đình Nga, gia đình người tư sản Cửu Bạch, Hồng lại đi kề Nga nữa! Trang thật sự rơi vào tuyệt vọng. Hoá ra, về sau, Trang mới biết, chính vì cô con gái của Cửu Bạch, nữ sinh Đồng Khánh tên Trà, mời ép, đến mức Nga không thể từ chối! Và chỉ vậy mà thôi. Thế rồi, gia đình Nga trở về Huế. Trang cũng về nhà ở ngoài đó. Gia đình Trang lại muốn Trang lập gia đình, quên hẳn Dinh đi. Trang tìm cách lên trang trại của gia đình Nga để thăm viếng... Lên đến nơi, Trang càng biết rõ đó là cơ ngơi của ông Nghè Thuyên, một người đã đỗ tiến sĩ, nhưng tính tình, theo nguyên văn trong tiểu thuyết, là “phóng khoáng, quả hợp” (thích tự do, ít hợp ý với những kẻ tầm thường khác), vì “thời buổi khó khăn” (dưới ách thực dân) nên không ra làm quan, mà tìm về một miền đất dưới chân rừng núi để lập trang trại, có tên là Diễm Dương Trang. Trong gần một tháng, Trang có nhiều lần từ quê nhà, ngoại ô phía đông kinh đô Huế, đạp xe lên ngoại ô phía tây, thăm Diễm Dương Trang. Trái tim của Nga hình như đã hồi sinh, ấm lại. Giữa Nga và Trang hình như đã nẩy sinh tình cảm, nhưng cả hai đều im lặng. Trang chưa một lần dám ngỏ lời. Trang rụt rè sợ thất bại, bởi vết thương phụ tình do Dinh gieo vào lòng anh ta. Nga lại đang phân vân, giằng xé giữa sự chung tình với Thạch, người đã khuất, và chút tình với Trang. Đó là chút tình mới âm thầm chớm nở trong kìm nén, Nga giấu tận đáy sâu lòng mình. Thế rồi, ông Cửu Bạch cùng vợ từ Đà Nẵng ra, có cả cô con gái tên Trà, nữ sinh Đồng Khánh, từ Huế lên. Thì ra, ông Cửu Bạch ra thăm để ngỏ lời dạm hỏi Nga cho viên tham tá Hồng, bạn nhờ vả vong niên của ông ta. Cũng do sự hiểu lầm của Nga trước sự ngẫu nhiên xảy ra – bởi cành lá dâu bật lên, rơi bụi dằm vào mắt Trà, lúc cô rủ Trang hái dâu –, và cách cư xử rất tân thời của Trà trong tình huống ấy, Nga trốn, tránh mặt Trang. Trang không thể tìm gặp Nga. Và Trang đinh ninh anh hoàn toàn thất thế, mất hẳn Nga. Anh về nhà, quyết định trở vào tiếp tục làm thầu khoán như cũ, lao vào công việc để quên đi nỗi đắng cay. Trước khi lên đường, anh vẫn còn đạp xe lên lại Diễm Dương Trang để chào gia đình bà Nghè Thuyên, đặc biệt là Nga. Anh bất ngờ khi biết Nga đã từ chối lời cầu hôn của Hồng, trước mặt gia đình mình và gia đình ông Cửu Bạch. Và bấy giờ, ở tình huống anh lên để chào từ giã, Oánh và bà Nghè Thuyên thì đã quá hiểu Trang, lại thương anh rụt rè, nhút nhát, nên họ mớm lời cho Trang, để Trang đủ mạnh dạn tìm gặp Nga, ngỏ lời. Trước sân nhà, dưới bóng trăng, thay vì với ý nghĩa mừng đám cưới Nga – Hồng, là ý nghĩa giao ước giữa Nga – Trang, Trang trao chiếc nhẫn vàng cho Nga. Trang nâng tay Nga, đeo hẳn chiếc nhẫn ấy vào ngón tay Nga. Ngay lúc đó, Trang nói: Nga đau khổ, Trang cũng đau khổ; hai người đau khổ có thể giúp nhau làm lành lại vết thương trong tâm hồn nhau. Nga, bấy giờ, theo nguyên văn trong tiểu thuyết, “run rẩy, ái ngại: Ta liệu có gây nổi hạnh phúc cho nhau không?”. Và “dưới bóng trăng vằng vặc”, họ đã “tay cầm tay, nhìn nhau, yên lặng...”. Tiểu thuyết kết thúc với ba dấu chấm lửng.

 

Tặng bạn Vũng Tàu - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) góp ý (4)   

Tặng bạn Vũng Tàu

                 Cho LVH

alt


Thằng bạn lắm trò quái quỷ

Độc thân quá nửa đời người

Mê toán, guitar, tin học

Tự dưng mất hút bên trời

 

Một ngày bỗng con dế* réo

Hắn trách: lâu không gọi, mầy?

Ừ nhỉ! Có đâu rỗi rảnh

Tạc thù nồng nã men cay

 

Hắn bảo: răng thơ không tặng?

Phổ vài ca khúc cầm tay

Tán phét mãi rồi cũng chán

Hát hò cho các em say

 

Đùng đùng hắn về thăm quê

Dẫn theo một o Vũng Tàu

Xinh chi mà xinh đến tệ

Cái nhìn sắc lẻm dao cau

 

Thật lòng ta rất thương hắn

Phải cung lao ái sóng trùng

Từ nay bạn bầu khó gặp

Rượu hòa nước mắt rưng rưng!

 

                   20/12/2011

                    vovanluyen

Phố biển

Thơ Trackbacks (0) góp ý (4)   

 

Phố biển

       Tặng THTT 

 alt

Ảnh có tính chất minh họa

 

Thành phố ngôi nhà chim câu

Đón gió lồng cửa biển

Cái vỗ cánh màu nhiệm

Vẽ lên khát vọng trời xanh

 

Thành phố có bao nhiêu đường về nhà em

Hoa vông vang một thuở

Mưa cổ tích dây dây nỗi nhớ

Đôi mắt u huyền

 

Thời gian lòng vòng tìm dấu xưa in

Xanh rêu kỷ niệm

Ôi tháng ngày thật thà như đếm

Chỉ một bước chân mà không đến được nhau

 

Cơ chi đường ngang ngõ tắt trở lại ban đầu

Nguyên khôi điều ước

Ta có ba vạn sáu ngàn ngày đục trong con nước

Về đây biển vẫn cứ màu xanh.

 

                                   Quy Nhơn,  1996

                                           VVL

alt

   Eo Gió Qui Nhơn

Mùa xuân về cưới - thơ Võ Văn Luyến

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   

Mùa xuân về cưới

alt


một chút rét vừa đủ nhớ

một chút xanh, biếc gió chim về

ngoài kia

lất phất mưa cổ điển

em ảo huyền

đính lên màu hoa

lạ phố


câu thơ tôi hăm hở

giọt nhân gian ấm nồng

đâu phải chơi trò sắc không

mùa xuân về cưới

em biết không?

 

Coffee maithanh, 11/12/2011

              vovanluyen

Design by JuliettaRose Studio. Powered by Vnweblogs