« January 2012 »
Su Mo Tu We Th Fr Sa
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        

LAI RAI CÙNG CHÚ EM VÕ VĂN LUYẾN - thơ Võ Văn Hoa

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) Thêm góp ý   

LAI RAI

CÙNG CHÚ EM VÕ VĂN LUYẾN

alt

Ly này

Nhớ về tuổi thơ

Anh em ta trong mái ấm gia đình

Nghèo khó thương yêu!

*

Ly này

Nhớ ngày đến trường

Mẹ thổi cơm sớm

Cha đưa các con qua truông Cu Hoan hằng năm trời

Mong con học cái chữ làm người!

*

Ly này

Nhớ con sông chảy qua làng Thi Ông

Những chiều hè anh em tập bơi, tập lặn

Sông đi vào thi ca!

*

Ly này

Nhớ những năm chiến tranh

Đỗ Đại học, em xếp bút nghiên

Đất nước bình yên

Trở về giảng đường yêu mến

*

Ly này

Tạ ơn tổ tiên, ông bà, mẹ cha…

Đã hun đúc, sinh thành chúng ta

Phù hộ độ trì cháu con thành đạt!

*

Ly này

Mừng thế hệ sau bước tiếp

Kế thừa truyền thống cha ông

Thắp ước mơ hồng…

*

Và ly này

Ngưỡng vọng bà con bạn bè 

Động viên và chia sẻ

Con đường xanh tiếng ve…


        VÕ VĂN HOA

Vần tháng giêng - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) góp ý (3)   

Vần tháng giêng

alt

Tháng giêng vào ta, gió lộng trăng ngà đồng xanh sương trắng.

Cúc áo nở bông bèo vẫn trên sông mẹ ta lưng còng gậy cong tay nải.

Này người em gái mà mắt thị thành

                                         mà áo phong phanh ngó sen ngơ ngác.


Tháng giêng vào ta, cò ơi bay xa tìm về với mẹ.

Tuổi thơ thỏ thẻ, chuyền năm chuyền ba,

                                          cỏ gấu cỏ gà chơi trò đánh bắt,

mượn thuyền khoan nhặt câu hát vu vơ,

                                mượn chuyện sông hồ hồn thơ ngụp lặn.


Tháng giêng vào ta, mắt ướt mi ngoan xúng xính đỏ vàng

                                                                 đồng tiền một lúm.

Mấy nụ tươi thắm nở giữa trong veo

                                        buồn chi giàu nghèo xuân cho tất cả.


Tháng giêng vào ta, có mẹ có cha có ông có bà có con cá bống.

Có vườn ươm nắng nhả ngọc bầu trời

                                       có cả chuỗi cười kết thành tràng hạt.

Câu kinh lạc mất ở phía niết bàn,

                                    người gánh đa đoan chất miền trần thế.


Tháng giêng vào ta, bão gần bão xa triều cường lũ cuốn.

Tháng giêng vào ta, hoa cưới phố làng.

Tháng giêng vào ta, lúa cóng bên sông.

Tháng giêng vào ta, mơ ước đòng đòng...

 

                                                                       VÕ VĂN LUYẾN

Xuân khai - thơ Võ Văn Luyến

Thơ Trackbacks (0) góp ý (6)   

  XUÂN KHAI

 alt

NIỀM VUI THÌNH LÌNH ẬP TỚI

HOA XUÂN THAY NẮNG MẮT EM

DUNG NHAN HỒNG TƯƠI , LÁ BIẾC

NGẬP NGỪNG GIÓ LUYẾN LƯU THỀM.

 

                      Sáng 02 tháng giêng Nhâm Thìn

                                Võ Văn Luyến

Về xuân - thơ Võ Văn Luyến

Thơ Trackbacks (0) góp ý (8)   

ĐÓN XUÂN NHÂM THÌN 2012, CHÚC QUÝ ANH CHỊ 

CÁC BẠN AN LÀNH, HẠNH PHÚC VÀ THÀNH ĐẠT!

 

Về xuân

 alt

                                                                      Ảnh: VVL

Nẻo nhớ đường xanh ngày dẫn bóng

Hoa duyên nụ mở sáng trời xuân

Ân sủng theo về tay lóng ngóng

Mây trắng cùng ta lại gieo vần

 

Tim ạ, ngựa hồng xin gửi lại

Hứng chiều năm ngón biếc miền xưa

Im lặng nương chân hiên thơ dại

Nghe tâm thanh gõ nhịp giao thừa!

 

                 Giáp xuân Nhâm Thìn – 2012

                      Võ Văn Luyến

‘Nghệ thuật’ giảm say xỉn trong ngày Tết

Tài nguyên Trackbacks (0) góp ý (2)   

Khoa học

‘Nghệ thuật’ giảm say xỉn trong ngày Tết

Năm mới là dịp để mọi người trong gia đình, người thân và bạn bè quây quần với nhau bên mâm cơm và ly rượu sau những tháng ngày lao động mệt nhọc và ít có dịp gặp nhau trong năm. Tuy nhiên, Ngày Tết cũng là thời điểm mà chúng ta dễ say xỉn nhất vì có nhiều “đại hội”, đó là điều mà tại sao thời gian này sức khỏe thường “xuống cấp”, béo hơn, ngộ độc rượu bia và tai nạn giao thông. Nhưng có một số thủ thuật có thể giúp bạn giảm nguy cơ say xỉn do rượu bia và cách điều trị dễ dàng khi bị say.

 alt

Những bữa tiệc năm mới khiến bạn rất dễ say xỉn nhưng hoàn toàn có thể giải quyết được bằng các mẹo nhỏ.

Ăn trước khi uống

Lời khuyên của các chuyên gia là nên ăn một chút thực phẩm vào bụng trước khi cạn ly. Nó sẽ giúp cồn trong rượu bia không bị hấp thụ nhanh. Ăn thực phẩm cũng làm giảm acetaldehyde trong dạ dày. Acetaldehyde được biết đến là thủ phạm chính gây say khướt. Ăn càng nhiều, khả năng say xỉn càng ít đi vì lúc đó bạn sẽ không uống được nhiều và cơ chế phòng vệ của cơ thể đối với độc tố của rượu bia cũng mạnh hơn nhờ hiệu ứng pha loãng cồn.

Bạn cũng có thể uống một cốc sữa trước khi “zô”. Lý do là sữa sẽ phủ lên da dày “màng bọc” và làm chậm quá trình hấp thụ cồn rượu.

Chỉ uống một loại rượu hoặc bia

Ngày Tết chúng ta có rất nhiều loại đồ uống, từ bia cho tới rượu vang, “quốc lủi”, đến các loại rượu “Tây”. Tuy nhiên, khi đã vào bàn nhậu, bạn chỉ nên theo đuổi một loại đồ uống. Các nhà khoa học cho rằng uống nhiều loại rượu bia khác nhau sẽ làm cho cơ thể bị “tra tấn” bởi những phụ gia (additives), hương vị (flavorings) và những nguyên tố khác ở trong mỗi loại bia, rượu. Điều đó có thể làm tăng khả năng say sỉn và mức độ say nghiêm trọng hơn, đặc biệt là vào ban đêm. Do vậy, hãy chỉ uống một loại duy nhất để khả năng “chiến đấu” của bạn mạnh hơn mà vẫn giảm được mức độ tổn hại sức khỏe.

Uống nước trước, sau và trong khi “nhập tửu”

Cồn trong rượu bia, làm cho bạn đi tiểu nhiều hơn, điều này có thể dẫn đến háo nước. Hãy uống một cốc nước trước, trong lúc và sau khi uống rượu. Điều này sẽ giúp phá vỡ cấu trúc cồn mà tạo ra axit lactic và các loại hóa chất khác gây cản trở sản xuất đường và chất điện phân (electrolyte) trong cơ thể. Đó là điều lý giải tại sao uống các loại nước đồ thể thao trong khi uống rượu sẽ rất tốt. Sau khi uống rượu cũng nên tránh các loại nước có chứa caffeine (cà phê và trà). Cafeine có thể làm bạn tiêu chảy và ngạt mũi khi kết hợp với cồn và làm tăng các triệu chứng khi say sỉn.

Lời khuyên tốt nhất là cứ uống 1 ly rượu thì uống một ly nước lọc và uống khoảng nửa lít nước trước khi đi ngủ.

Chọn đúng loại rượu “tủ”

 alt

Hãy chọn loại rượu khiến bạn cảm thấy dễ chịu nhất khi uống.

Một số nghiên cứu cho biết, những loại đồ uống như whisky, rượu vang... dễ làm tăng khả năng say hơn những loại rượu khác. Mặc dù cần nhiều nghiên cứu nữa để củng cố thông tin này nhưng tốt nhất là bạn phải biết cơ thể khi nào chuẩn bị say để dừng lại kịp thời. Nếu bạn để ý có một số loại rượu thường gây nhức đầu thì hãy chọn loại rượu mà bạn cảm thấy dễ chịu nhất.

Uống một cách từ từ

Mỗi lần uống, bạn nên chỉ uống một vài hớp một chứ không nên uống liền một mạch và buổi tiệc tùng ngày Tết cũng không nên “cà kê” quá lâu. Theo các nghiên cứu, bạn uống càng nhiều trong mỗi lần “zô” thì bạn càng nhanh bị “đo ván”. Trong một giờ, cơ thể chỉ phân giải được 25ml cồn. Lượng cồn không bị phân giải tồn đọng do uống quá nhanh sẽ tràn vào máu và dễ gây ngộ độc (say sỉn).

Ăn thực phẩm rán, chiên

Trước và trong khi nhập tiệc rượu, bạn nên dùng chút thức ăn có chút dầu mỡ (đồ rán, chiên). Cách này giúp bề mặt dạ dày và ruột được tráng một lớp dầu, nhằm giảm lượng cồn hấp thu vào máu qua niêm mạc của hai bộ phận này. Ngoài ra, bạn có thể ăn lòng trắng trứng gà hoặc trứng vịt. Chất albumin của lòng trắng trứng sẽ làm kết tủa cồn trong rượu, giảm lượng cồn hấp thu vào máu, do đó giảm nguy cơ say và ngộ độc rượu. Mặt khác, albumin còn bảo vệ niêm mạc dạ dày trước tác động kích thích, xung huyết, loét… của lượng cồn có trong rượu.

Trong khi uống có thể dùng kèm nhiều loại trái cây hoặc rau như dưa chuột, cà rốt, su su, đồng thời tránh những loại hạt khô như lạc, hạnh nhân vì nó tác động đến dạ dày.

Mở cửa cho thoáng

Khi nhậu bạn cũng nên mở cửa sổ hoặc cửa ra vào để cho thoáng và đón nhận không khí trong lành từ bên ngoài. Điều này giúp oxi hóa cơ thể đồng thời giúp các cơ quan trong cơ thể và tâm hồn hoạt động tốt hơn khi nhậu, từ đó mà cũng giảm được khả năng say xỉn.

Giải quyết sự cố khi say xỉn

Khi vui vẻ, không tìm cách tránh được từ những lời mời nhiệt tình của bạn bè và người thân làm cho bạn say khướt thì bạn cũng cần biết một vài thủ thuật dưới đây để hạn chế những tác động xấu nhất tới sức khỏe do uống quá nhiều.

 alt

Hãy nôn khi cần thiết. Ảnh minh họa.

a/ Hãy nôn khi có thể

Nếu bạn buồn nôn và cảm thấy khó chịu, hãy tìm cách nôn hết ra, sau đó bổ sung nước và năng lượng bằng một ly nước ép trái cây hoặc nước chanh đường, đặc biệt là nước mía. Bên cạnh đó, bạn có thể dùng một bát cháo loãng. Cháo dễ tiêu hóa, khiến bạn không có cảm giác nặng bụng.

b/ Ăn nhiều chuối

Uống nhiều rượu bia làm cho cơ thể bị cạn kiệt lượng kali. Do vậy, ăn chuối hoặc những thực phẩm giàu kali, trong lúc bị say rượu sẽ làm giảm những triệu chứng khó chịu do cơ thể được bổ sung kali và chất điện phân. Bạn cũng có thể dùng các loại nước uống thể thao vì chúng cũng giàu hàm lượng kali.

c/ Uống trà atisô

Theo một công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Anh thì trà atisô (không chứa chất caffein) có thể kích thích sự phục hồi của gan và giúp giải cơn say rượu. Không những thế, loại cây trà này còn có khả năng điều trị chứng khó tiêu, chứng nghiện rượu, bệnh gan mãn tính, bệnh vàng da và nhiều biến chứng khác gây tổn hại đến gan. Trà atisô cũng giàu chất hoá học có lợi cho sức khoẻ, đặc biệt là chất fructoso và axít ascorbic, chất này được biết đến như là vitamin C, giúp cơ thể chuyển hoá nhanh lượng cồn trong cơ thể. Ngoài ra, trà atisô cũng góp phần làm dịu một số triệu chứng của say rượu.

d/ Tăng cường vitamin C

Khi say, hãy uống nước hoặc ăn nhiều đô giàu vitamin C như cam, quýt, bưởi, dâu tây, dứa, cà chua, cà rốt... Hoặc bạn có thể dùng viên C để giúp cơ thể nhận được nhiều năng lượng hơn.

e/ Hãy đi ngủ

Khi bạn say xỉn, sau khi đã dùng những phương pháp trên thì nên trở lại giường và ngủ. Giấc ngủ sẽ làm dịu những triệu chứng của say rượu và giúp bạn tránh được những rủi ro như trúng gió, tai nạn...Và cách làm dịu sự khó chịu là hãy nằm ở phòng tối và đắp khăn mát lên trán.

                                                                      Ngọc Huế (Tổng hợp)

http://www.vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/57370/-nghe-thuat--giam-say-xin-trong-ngay-tet.html

CUỐI NĂM VÀ NẮNG MƯA Ở LẠI - ẢNH VVL

Album ảnh Trackbacks (0) góp ý (2)   

CUỐI NĂM VÀ NẮNG MƯA Ở LẠI

alt

 

alt

alt

DUYÊN HOA (TRƯỚC CHỢ ĐÔNG HÀ)

alt

alt

alt

altalt

alt

alt

CHÂN DUNG VOVANLUYEN - HỌA PHÁP LÊ ĐÀN

alt

THƠ TRÊN BÁO
alt

TẶNG THƠ MỸ CON

alt

 VỚI HỌC TRÒ CŨ

alt

   ĐỒNG NGHIỆP TẤT NIÊN

Ảnh cảm - VÕ VĂN LUYẾN

Thơ Trackbacks (0) góp ý (5)   

 

10

 

Ảnh cảm

            Với cháu Nhật Minh


Hồn nhiên như nắng sớm
Cháu là nụ là mầm
Ngày sáng lên hy vọng
Yêu thương ngời nhân văn


              VÕ VĂN LUYẾN

Thơ VÕ VĂN LUYẾN trên WEBSITE HUYỆN HẢI LĂNG

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   

alt

 

 

Lời chào tháng giêng

tháng giêng búp nõn bàn tay

câu thương ướm gió, chân mày đòi xanh


tháng giêng vội vã buông mành

trăng nghiêng bóng nhớ, mây lành xuống vai


tháng giêng nụ thắm hoa cài

mộng mơ trổ ngọn ở ngoài ngõ hoang


tháng giêng gửi chút đa mang

sông trôi tìm biển, tao khang tìm đời


tháng giêng mười tám, đôi mươi

có người thả tóc nói lời chào xuân.

                           Võ Văn Luyến

 

NGUỒN: http://hailang.quangtri.gov.vn/portlet-params@uP_portlet_action%253Dtrue%2526uP_root%253Dctf1%2526jspName%253Ddetail%25252Ejsp%2526MaCM%253D1%2526MaNT%253D5%2526MaTin%253D597%2526Ngay%253D2012-01-05@portlet-params.tag.38874aea2115a533.render.userLayoutRootNode.target.ctf1.uP

THƠ ĐỀ TRÊN ẢNH VÕ VĂN HOA - Nguyễn Bá Văn ( Bà Rịa - Vũng Tàu)

Album ảnh Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

vo-van-hoa(A)

Thơ sáu tám VÕ VĂN LUYẾN

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   

 

DSC03871

 

Thơ tình thả gió

 

Dễ chừng tôi sợ cuộc vui

Cơn say chóng bốc, ngậm ngùi mau phai

Vãn ngày tôi tìm bóng ai

Ai trong mắt kiến, ai ngoài giọt sương

 

Vòng qua nửa bánh vô thường

Đã nghe vàng đá cuối đường sắc không

 

Dễ chừng tôi sợ đêm hồng

Lang thang ngọn gió bềnh bông bên trời

Lúng liếng à, lúng liếng ơi

Lúng liếng chút nữa tôi rơi mất mình

 

Dễ chừng tôi sợ quân bình

Yêu người yêu nửa trái tim để dành

Một đời khát vọng trời xanh

Xây nên vạn lý trường thành tình yêu.

 

Lỗi của đêm

 Xa nhà ngủ ít thức nhiều

chẳng như cái thuở dám liều đi đêm

ra đường xinh đẹp các em

một câu cợt gió sợ thêm nhầm người

người nhầm mình - giống ma trơi

vai anh giáo thành chuyện cười dân gian

 

thôi thì xin được bằng an

buồn vui mình lại miên man với mình

chữ đến như rùa mới kinh

thế là dang dở đêm tình tự qua

có đâu lấy một tiếng gà

còi xe giục kẻ đi xa lên đường

 

rồi ra như mình nhớ thương

ngổn ngang trăm nỗi, ngại đường giữa đêm!

 

 

TRẦM HƯƠNG CỦA ĐỜI CON

 

Trần lưng với thú ruộng vườn

Tuổi cha đã hoá trầm hương của đời

Nghĩa cao đức trọng cao vời

Có cha soi một góc trời cho con.

 

SÔNG MÊ BẾN LÚ

 

Con sông chở những cơn mê

Ta như bến lú thả thề trôi xuôi

Lấm hương xưa cũng vì người

Quẫy trong nước đục mơ thời rồng bay

 

 

Rỗi ngồi đếm lại tuổi mình

Chân chiều rơi xuống hàng hiên

Tôi và năm tháng gọi tên tuổi mình

Một thời bạch diện thư sinh

Ra đồng mẹ dặn con kênh trước nhà

Nước sâu cuộn xiết tháng ba

Theo bè bạn quên cửa nhà mê chơi

Mẹ về chới với chơi vơi

Còn tôi đuổi bướm trên đồi mộng mơ

Di hoang một kiếp dại khờ

Thắt dải yếm dựng câu thơ trong đời

Bây giờ tôi đếm tuổi tôi

Trắng tóc nửa mẹ, xanh ngời nửa em...

                 VÕ VĂN LUYẾN

HÌNH ẢNH KỶ NIỆM 20 NĂM THÀNH LẬP TẠP CHÍ CỬA VIỆT

Album ảnh Trackbacks (0) góp ý (6)   

 

* Hôm nay (09/01/2012) tại Hội trường Tỉnh uỷ Quảng Trị, Tạp chí Cửa Việt long trọng tổ chức kỷ niệm 20 năm thành lập tạp chí. Đến dự có ông Nguyễn Đức Cường, PBTTU, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị và các đồng chí Lãnh đạo Tỉnh cùng đông đảo Văn nghệ sĩ tỉnh nhà đến dự. Nhà văn Cao Hạnh TBT tạp chí đã ôn lại quá trình hình thành và phát triển tờ Tạp chí văn học quê nhà.Nhiều tham luận đã trình bày . Chủ tịch Tỉnh đã biểu dương những nổ lực của BBT, đội ngũ cộng tác viên trong suốt 2 thập kỷ qua đã đóng góp xây dựng tạp chí ...

Sau đây là một s hình ảnh!

DSC03886

 

DSC03885

DSC03857

Văn nghệ chào mừng

DSC03856

 

alt

 

alt

alt

Lãnh đạo Tỉnh

 

DSC03865

 

Nhà văn Cao Hạnh, TBT TC CỬA VIỆT báo cáo

DSC03863

 

DSC03862

 

DSC03861

 

DSC03880

 

DSC03884

DSC03881

 

Nhà báo Nguyễn Hoàn, Phó Giám đốc Sở TT TT Quảng Trị phát biểu

DSC03878

 VVH và nhà thơ Đức Tiên

alt

 

DSC03875

 

Võ Văn Hoa và nhà văn Xuân Đức

 

alt

Võ Văn Hoa và Lê Đức Dục - phóng viên báo Tuổi Trẻ

DSC03871

 

Nhà thơ Võ Văn Hoa, nhà văn Nguyễn Ngọc Chiến và Võ Văn Luyến


DSC03868

 

Nhà giáo Lê Văn Thạnh, PTP GD& ĐT Hải Lăng,  Võ Văn Luyến,

Nhà báo Lâm Chí Công, Nhà giáo Đoàn Quang Anh, TP GD& ĐT TX Quảng Trị

DSC03895

 

 Bức trướng Tỉnh uỷ tặng Tạp chí

DSC03852

DSC03887

 

Trưng bày

DSC03888


 

DSC03893

 

 

 

DSC03896

 

DSC03897

Trao thưởng

 


 

 

 


 

 

Thơ nhà giáo Nguyễn Văn Giới

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

Một nhà giáo xa quê nhưng đau đáu nỗi quê với một tình cảm thường trực. Anh cùng các đồng hương lập một trang Web mang tên làng mình với mong muốn kết nối những người con làng Lệ Sơn “ly hương bất ly tổ”, hướng về nguồn cội sinh thành. Riêng điều đó không thôi cũng đủ cho chúng tôi trân trọng. Anh là Nhà giáo Nguyễn Văn Giới, Thạc sĩ Ngữ văn, Hiệu trưởng Trường THPT Lê Quý Đôn, huyện ChưPrông, tỉnh Gia Lai. Với tình cảm bầu bạn, anh vừa gửi cho tệ xá VVL một sery thơ, những mong các thi hữu chia sẻ.

 alt

             BẾN QUÊ

 

Xa quê mấy chục năm trời

Sông xưa vẫn chảy một đời nhớ thương

Khóm tre, bến nước, con đường

In vào ký ức vấn vương thuở nào

Trời quê mây nhẹ lên cao

Núi sông hoà quyện lạc vào bến mơ

Sông Gianh nước chảy lửng lờ

Bên bồi bên lở, bài thơ xuôi dòng

Về đây rảo bước thong dong

Có  người ngơ ngẩn để lòng ngẩn ngơ

Bến quê từ bấy đến giờ

Có còn ghi dấu tuổi thơ vui đùa

Trưa hè bơi lặn bắt cua

Vớt rong, chài lưới tiếng khua rộn ràng

Đò về xuôi chợ mênh mang

Đêm trăng hò hẹn trai làng, gái quê

Bến xưa bãi cát, luỹ tre

Em còn gánh nước trưa hè xôn xao...

Thôi anh, ngày tháng qua mau

Thời gian khuất lấp một màu ly hương

Bến quê im lặng vô thường

Đón người xa xứ con đường lá bay

Ngày xưa cho đến hôm nay

Bến quê gắn bó đắm say ân tình !

 

      CẢM ƠN !

 

Cảm ơn ông Trời đưa anh đến với em

Để thấu hiểu thế nào là hạnh phúc

Để đêm về em giật mình tỉnh giấc

Lại nhớ về anh, nỗi nhớ mặn lòng!

 

Cảm ơn cuộc đời đã tặng cho em

Dù muộn màng, dù không còn viên mãn

Dù tình ta không chỉ là lãng mạn

Dẫu biết rằng mình sẽ khổ vì yêu...!

 

Cảm ơn mẹ cha đã chịu khó nhiều

Sinh ra em và dạy nuôi khôn lớn

Để bây giờ  tóc bồng bềnh mây gợn

Để bây giờ em lại biết  thương yêu !

 

Cảm ơn anh vì tất cả mọi điều

Không mặc cảm, không yêu cầu đòi hỏi

Dám can đảm và không hề bối rối

Đã giúp em kiêu hãnh ngẩng cao đầu !

 

 

 THU TÌNH YÊU

 

Thu đến ngọt ngào trên bờ môi

Trời cao, mây nhẹ lững lờ trôi

Mắt biếc ai vừa cười với gió

Hương thơm ngơ ngẩn cả lòng tôi.

 

Cành cao chim hót tiếng thu ơi

Vòng tay siết chặt ấm tình người

Đong đầy yêu mến hoà trong nắng

Thủ thỉ tiếng ai giữa đất trời.

 

Mùa thu êm dịu để chơi vơi

Rượu thu chưa thấm sao rã rời

Nghe trong sâu thẳm tình đôi lứa

Duyên nợ trăm năm đã thề bồi.

 

Trong tiếng thinh không lá vàng rơi

Hồi sinh mầm chảy của muôn đời

Ngày mai xanh thắm màu lá mới

Dệt bản tình ca em với tôi !

P/S Ảnh: HỘI NGỘ TÍCH TƯỜNG

Album ảnh Trackbacks (0) Thêm góp ý   

P/S Ảnh: HỘI NGỘ TÍCH TƯỜNG

Nhân Nhà giáo Hoàng Đức Nghiêm cùng ái thê (chị Mỹ) từ Sài Gòn về thăm, trưa ngày 04/01/2012, tại Khu du lịch sinh thái Tích Tường (TX Quảng Trị), anh em và thân hữu đã có cuộc giao lưu thân mật, ấm áp nghĩa tình. Dưới đây là những khoảnh khắc ghi nhận được:

alt

alt

Toàn cảnh

alt

Trái sang: Các anh/chị Hoàng Đức Nghiêm - Chị Mỹ - Chị Niềm - anh Bình

alt

altalt

 

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

 VVL với Bs Thanh

alt

Tiếp tục hành trình vào Hải Lăng, "hạ hỏa" bằng cháo bánh canh cá trà

 

happy new year!

Album ảnh Trackbacks (0) góp ý (10)   

alt

Hai ngày liên tục đi Hải Lăng dự cưới con của đồng nghiệp, về lăng mộ cha mẹ dâng hương, thăm chị ruột hậu phẩu, thăm các anh chị, các cháu và gặp gỡ bạn bè. Thời gian đủ để thêu niềm vui và dựng dậy kỷ niệm vui buồn một thuở. Ngày tết Tây lại lướt thướt trong mưa và men nồng, tăng tốc ra Đông Hà tổ chức cái sinh nhật mini cho bé Trang Phúc đón tuổi14. Và đây là những tấm ảnh nóng:

alt

alt

alt
alt

alt

alt

alt

alt

alt
alt

                                (sẽ tiếp tục cập nhật ảnh Hải Lăng)

Tự sự trước năm 2000

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   

Tự sự trước năm 2000


Trái tim báo gió lùa đông bắc

Căn nhà  chông chênh, mâm cơm nghiêng lệch

Em hành phương nam, kinh cầu mất ngủ

Câu thơ anh rủ như lá ứa vàng

 

Bõ buồn lang thang khuya trên đường phố

Con ở hai đầu làm mưa nỗi nhớ

Về dưới hiên nhà ôm đàn lại hát

Khói bếp lòng vòng cay lên mi mắt

 

Giở tân thư đọc, chữ nghĩa cô đồng

Chúa về nước chúa, phật vào hư không

Muốn tìm nàng tiên sang trang chuyện cổ

Tỉnh say lỡ dở vai diễn tuồng đời

 

Thế kỷ hai mươi, anh còn khổ lắm

Mồ hôi lấm tấm vác nợ trần ai

Thử cân hồn mình, nhẹ hơn cục đất

Gọi đêm rát họng, đêm hời, có hay?!

 

(Rút trong tập Trầm hương của gió)

          VÕ VĂN LUYẾN

Vĩnh biệt Anh - thơ VVL

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Tin buồn: Anh Dương Quang Lưu đột ngột rời cõi tạm trưa nay (25/12/2011). Người thân, bạn bè và đồng sự của anh vô cùng thương tiếc. Anh nguyên là: Bí thư Huyện ủy Triệu Hải cũ, UVTV Tỉnh ủy – Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Quảng Trị

Anh là bà con cô cậu bên bà xã nhưng đối với mình thân thiện như ruột thịt. Xin thắp một nén tâm hương tưởng tiếc Anh và thành kính chia buồn cùng tang quyến!

 alt

Vĩnh biệt Anh

                 Tưởng nhớ Anh Dương Quang Lưu
                

 

Lặng lẽ như thời gian

Như mộc quý giữa đại ngàn

Chiều nay đổ xuống!



Chiều mang tên một con người độ lượng

Không mê dụ hình tướng

Không vọng ảo thế quyền


Anh là người hiền

Lấy nhân đức hóa giải tị hiềm

Lấy ánh sáng rọi nguồn cơn bóng tối

Lấy vô ngôn thắp lên nụ cười


Biết nói gì, Chiều ơi!

Anh đi thật rồi

Gió ngừng thổi, sông thôi xuôi về biển

Cơn mưa lặng, buốt phía lời hò hẹn

Nén hương này, xin vĩnh biệt Anh!

 

                 25/12/2011

               Võ Văn Luyến

Trường xưa - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Trường xưa

alt
Về thăm mái cũ trường xưa

Thông reo bóng phượng bây giờ còn đâu

Tường vôi ố cũ nhạt màu

Dấu rêu người đã theo nhau lạc loài

Cầm lòng

            nỗi nhớ

                       thương ai

Lẫn vào sương khói nối dài cung mây

Đi trong vọng niệm hao gầy

Tôi thành bóng lẻ tìm ngày gian nan.

 

 

                 12/01/1995

 

MỘT TIỂU THUYẾT THỜI THƠ MỚI CÓ QUÊ GỐC QUẢNG TRỊ

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) Thêm góp ý   

MỘT TIỂU THUYẾT THỜI THƠ MỚI CÓ QUÊ GỐC QUẢNG TRỊ

alt

(ĐỌC “DIỄM DƯƠNG TRANG” CỦA PHAN VĂN DẬT, 1907-1987)

 

Trần Xuân An

 

Được giới cầm bút và người đọc yêu thơ biết đến từ thời niên thiếu (1924), và từ đó, suốt mười mấy năm dài, Phan Văn Dật có thơ đăng trên báo chí. Khi ông bước vào tuổi 28 (1935), “Bâng khuâng”, tập thơ đầu tay của ông, được xuất bản. Hoài Thanh viết bài thẩm định, ngợi khen trên báo (và dăm bảy năm về sau, đưa vào “Thi nhân Việt Nam”, cuốn sách tôn vinh chỉ khoảng trên bốn mươi nhà thơ thuộc trào lưu “Thơ mới”). Nhưng không chỉ thơ, ông còn viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết đầu tay của Phan Văn Dật, “Diễm Dương Trang”, cũng vào năm 1935, lại được khẳng định ngay bởi một giải thưởng danh giá lúc bấy giờ: giải thưởng Tự Lực văn đoàn.

 

Những thông tin ấy, tôi và bạn bè thuở học trò đều biết, nhưng thú thật, rất đáng trách, hầu như không ai tìm tập thơ “Bâng khuâng” và tiểu thuyết “Diễm Dương Trang” để đọc, mặc dù biết rằng chúng nằm đâu đó trong thư viện. Thời chúng tôi còn là sinh viên, thi sĩ Phan Văn Dật chỉ tồn tại trong “Thi nhân Việt Nam” với ba bài thơ trích từ tập “Bâng khuâng”; ông thường được gọi là nhà giáo, giảng viên đại học, nhà nghiên cứu Hán văn và lịch sử. Ông là một vì sao thơ văn sớm tắt, một vì sao đổi ngôi, sáng lên ở góc trời nghiên cứu, giảng dạy. Còn “Diễm Dương Trang” hoàn toàn bị lãng quên!

 

Mãi cho đến những ngày gần đây, tôi quá đỗi vui mừng khi tìm gặp “Diễm Dương Trang”, với dòng ghi chú, “theo bản in trên báo Trung Bắc tân văn, Hà Nội, 1935”. Cuốn tiểu thuyết gần hai trăm trang ấy đã chiếm hết tâm trí tôi... Trước hết, tôi phải tự tìm cách giải đáp cho chính mình về sự quên lãng của người đọc, trong Nam cũng như ngoài Bắc, đối với “Diễm Dương Trang”.

 

1. Tiểu thuyết tâm lí: Quá trình sống lại của hai tâm hồn

 

Đây là cuốn tiểu thuyết thuộc trào lưu lãng mạn, xuất hiện vào những năm đầu giai đoạn cực thịnh của văn chương quốc ngữ theo hệ abc, 1930-1945. Phải một năm sau, 1936, mới bắt đầu cao trào dân chủ ở nước ta, bấy giờ còn là thuộc địa, do sự cầm quyền của Mặt trận Bình dân ở Pháp. Chính trong thời đoạn 1936-1939 ấy, mới có thể nở rộ trào lưu hiện thực phê phán, trên văn đàn công khai (tuy công khai trong cao trào dân chủ, nhưng chiếc kéo kiểm duyệt sắc nhọn, khổng lồ thường xuyên treo lơ lửng trên đầu mỗi nhà văn chương).

 

“Diễm Dương Trang”, vì thế, qua cốt truyện, chúng ta có thể nói, chủ yếu chỉ là một chuyện tình yêu đương. Tuy nhiên, so với tác phẩm văn xuôi của các nhà văn cùng thời đoạn, như Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam..., “Diễm Dương Trang” vẫn có nét độc đáo ở khía cạnh chủ đề, bên cạnh bối cảnh là bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng và ngoại ô kinh đô Huế. Mặc dù Nhất Linh, Thạch Lam đều là người gốc Quảng Nam, nhưng bối cảnh tiểu thuyết, truyện ngắn của hai tác giả nổi bật này vẫn là Bắc Bộ. Khái Hưng thì đã đành là rặt Bắc Bộ rồi! Mặt khác, tình yêu đương nam nữ trong văn xuôi của các tác giả ấy được đào sâu, thể hiện ở khía cạnh khác với Phan Văn Dật. Nói cách khác, “Diễm Dương Trang” có cùng đề tài là tình yêu đương nhưng lại khác hẳn về khía cạnh chủ đề, so với “Hồn bướm mơ tiên”, “Đoạn tuyệt”...

 

Thi sĩ đồng thời là nhà tiểu thuyết Phan Văn Dật đã khai thác đề tài yêu đương ở tình huống đặc biệt, để tác phẩm thật sự có nét độc đáo. Hai nhân vật chính đều đang ở trong trạng thái trầm kha về bệnh tâm lí, cần đi an dưỡng, và họ đã gặp nhau ở bãi biển Mỹ Khê. Tuy thế, căn bệnh tâm lí của hai người vẫn khác nhau. Ở Trang, đó là nỗi đau cùng cực của một kẻ bị phụ tình. Dinh, người yêu của Trang, đã phũ phàng dứt tình với anh ta để đi đến hôn nhân với một người danh giá hơn Trang về bằng cấp học vấn và địa vị xã hội. Trong sự tổn thương vì bị phụ tình của tâm hồn Trang, còn có nỗi tự ái bị xúc phạm. Ở Nga, cô gái ấy không khổ đau vì bị phụ tình, mà khổ đau vì người yêu sớm qua đời. Người nữ Việt Nam ngày xa xưa và ngay thuở bấy giờ, trong trường hợp đó, thường là họ tự chít khăn tang lên trái tim mình, tự biến trái tim mình mãi mãi thành bàn thờ với hình ảnh người đã khuất. Nhưng, dẫu chỉ xét trên mẫu số chung của con người, không phân biệt bản sắc văn hoá dân tộc, thì cũng có ai lại không khổ đau trong tình cảnh đó!

 

Nếu cho rằng di chứng bệnh sốt rét ở Trang không đáng kể, thì Trang và Nga đều chỉ là hai bệnh nhân tâm lí. Họ không hẹn nhau, nhưng cùng tìm cách chữa bệnh cho chính mình, theo kiến thức y học phổ thông thuở bấy giờ, bằng cách thoát ra khỏi khung cảnh cũ, không gian sống thường ngày, để tìm đến với thiên nhiên, sóng biển và không khí trong lành. Với tâm cảnh của mỗi người, hẳn mọi cảm xúc đều héo úa. Ở họ, tình yêu khó đâm chồi, nẩy lộc. Trong trường hợp như Trang, có người vĩnh viễn căm thù phụ nữ. Đối với Trang, bệnh trạng nhẹ hơn, anh ta chỉ sợ hãi tình yêu đương, sợ hãi thất bại, cự tuyệt. Trang lâm bệnh mặc cảm tự ti, không những tự ti khi nghĩ đến địa vị người chồng của Dinh, mà tự ti với cả Thạch, người sắp là ông “đốc-tờ”, nhưng sớm mất. Thạch của Nga đã chết, nhưng chừng như vẫn còn đó. Trang đến sau Thạch, lại kém sút Thạch quá nhiều! Trang chỉ là viên thư kí quèn, là viên thầu khoán tập tành, phải chung vốn với người nhiều vốn hơn. Còn giấc mộng thi sĩ của Trang cũng bị cả viên tham tá Hồng chế giễu!... Tác giả không gọi hẳn ra căn bệnh của Trang còn là mặc cảm tự ti, nhưng sự rụt rè, nhút nhát thái quá ở Trang, đến mức ta thấy Trang thật tội nghiệp, mặc dù vẫn trân trọng anh... Và cảm thấy thương Trang nữa, như Oánh cùng bà Nghè Thuyên đã phải mớm lời cho Trang, để Trang đủ mạnh dạn ngỏ lời với Nga!... Nhưng dẫu sao, Trang không bị chút áp lực xã hội nào khi anh ta dấn bước vào cuộc tình mới. Trang đâu phải là người phụ tình, ruồng rẫy Dinh! Trang có quyền tìm kiếm tình duyên mới. Còn ở Nga? Dĩ nhiên Nga cũng chẳng tội tình gì. Nhưng văn hoá Việt Nam thuở bấy giờ vẫn rất ngưỡng mộ những người con gái, trong trường hợp như Nga, biết để tang người yêu mới khuất. Như đã nói, con người dân tộc nào cũng thế, thời nào cũng thế, nhưng trong không gian văn hoá Việt thuở đó, lòng thuỷ chung vốn rất được đề cao. Chính sự đề cao ấy mặc nhiên đã trở thành một ràng buộc, áp lực có tính chất đạo đức, và người ta cảm thấy vinh dự khi giữ được lòng thuỷ chung cao quý như vậy.

 

Có thể nói, ở cả Trang lẫn Nga, tâm hồn họ đều đã héo hon, đều đã chết, bởi hai vết thương tình duyên khác nhau. Và suốt cả cuốn tiểu thuyết là cả một quá trình sống lại của tâm hồn hai người. Người đọc nếu đặt mình vào không gian và thời gian văn hoá thuở bấy giờ, mới có thể thấu hiểu được họ.

 

Tiểu thuyết “Diễm Dương Trang”, với sự triển khai dần cốt truyện của tác giả, đã cho người đọc thấy rõ quá trình ấy, với những ngộ nhận ngẫu nhiên gây ra không ít khổ đau, có lúc tưởng chừng hoàn toàn tan vỡ, nhất là sự xuất hiện của người thứ ba – viên tham tá Hồng –, kẻ có thể một lần nữa giết chết tâm hồn của cả hai người. Thi sĩ Phan Văn Dật, ở lĩnh vực tiểu thuyết, tỏ ra ông còn là một nhà văn tinh tế, sâu sắc về tâm lí, cụ thể là các diễn biến tâm lí, và ông để cho nhân vật thể hiện các trạng thái tâm lí của mỗi người trong những cử chỉ, dáng vẻ, lời nói ở nhiều tình huống khác nhau.

 

Cùng với dấu chấm lửng cuối cùng, câu áp cuối của tiểu thuyết “Ta liệu có gây nổi hạnh phúc cho nhau không?” là một câu kết nhưng lại mở ra các hướng khác nhau: một gia đình đầm ấm, sáng tươi hay lạnh băng, tăm tối?

 

Tôi nghĩ rằng, chính nhờ biết khám phá, khai thác khía cạnh này trong đề tài lớn là tình yêu đương, nên giải thưởng danh giá Tự Lực văn đoàn đã được trao cho Phan Văn Dật.

 

2. Bối cảnh tiểu thuyết: Nền nếp xưa và sự hãnh tiến của lối sống tân thời

 

Phan Văn Dật là thi sĩ, nhà văn xuôi thuộc khuynh hướng lãng mạn, tuy có ý thức vươn tới những giá trị mới, đương thời, nhưng ông cũng đồng thời thể hiện sự luyến tiếc, giữ gìn, trân trọng những nền nếp văn hoá nghìn đời của dân tộc. Ở bà Thị Tốn, mẹ của Trang, cũng như ở bà Nghè Thuyên, mẹ của Oánh và Nga, hình ảnh người mẹ Việt Nam được thể hiện rõ. Họ là tiêu biểu cho bản sắc nghìn xưa, nhưng không hề cổ hũ. Bà Thị Tốn cũng chỉ thuộc tầng lớp trung lưu, từng suýt lao đao ở bờ vực của nghèo khổ, đã bản lĩnh vượt lên. Bà Nghè Thuyên dù có trang trại, nhưng cũng chưa được gọi là điền chủ. Sự sung túc hiện tại là nhờ Oánh làm nghề thầu khoán. Ở Nga cũng thể hiện nền nếp gia phong đáng quý, đặc biệt trong quan hệ với Trang. Và hầu như Phan Văn Dật, về phương diện này, không gần gũi với những tác giả hiện thực phê phán cùng thời, đặc biệt là trong thời đoạn 1936-1939... (nói như vậy, cũng cần thấy Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao phê phán những địa chủ đáng phê phán, chứ không phải như bà Nghè Thuyên). Tuy thế, mặt khác, Phạm Văn Dật lại gần gũi với khuynh hướng văn học hiện thực phê phán ấy, khi hướng ngòi bút của mình vào đối tượng viên chức hãnh tiến của guồng máy thực dân hay người tư sản hãnh tiến. Tác giả không phê phán cả thành phần, mà chỉ khu biệt những cá nhân hãnh tiến mà thôi.

 

Phan Văn Dật khắc hoạ nhân vật bằng đối thoại, nét mặt:


“... - Kìa anh Trang, hồn thơ gởi đâu mà ăn lơ lửng thế?

Oánh làm bộ rầy chàng, rồi lại muốn khoe bạn cùng quý khách:

- Anh Trang tôi đây ngoài các công việc kinh dinh ra lại còn là một nhà thi sĩ.

Hồng, ông khách tuổi trẻ, trừng mắt một cái rất nhanh, ra dáng hoài nghi, nhưng chẳng để ý gì đến Trang, sẽ đạo mạo nói:

- Nếu thật xứng với cái danh hiệu ấy thì còn gì hay bằng!

Lại sợ chưa bày tỏ đủ ý kiến mình, liền nói tiếp, giọng mỉa mai, dằn từng đoạn một:

- Phải, cũng có thi sĩ và thi sĩ... Nếu chỉ thuộc đôi chút lề lối, biết qua một mớ niêm luật, xin chớ vội tưởng mình là thi sĩ. Phải có thiên tài, cái đó là lẽ cố nhiên; tình cảm phải cho dồi dào, nhưng cũng chưa đủ; còn cần phải học, học cho có hàm súc, cho có nhiều công phu; mới mong viết một lời nghe được. ‘Muốn thì được’, chỉ là một câu nói để khuyến miễn người đời, không thể dùng về trường hợp nầy...”.

 

Khi Oánh chân tình giới thiệu về bạn mình là Trang với niềm tự hào, viên tham tá Hồng ngay lập tức phơi bày bản chất kém lịch sự, thiếu văn hoá của y. Y không những bộc lộ sự ganh ghét nhỏ mọn bằng “đòn đánh phủ đầu”, ngạo mạn “lên lớp, dạy dỗ” Trang, một người mới gặp lần đầu, mà còn cả sự thiếu tôn trọng Oánh. Tham tá Hồng quả thực là một tên hãnh tiến, quên bẵng mình là nô lệ của thực dân!

 

Còn đây là một đoạn hoạt hình biếm hoạ về nhân vật Cửu Bạch:

 

“... Ông Cửu Đùm nãy giờ nghe bạn tri kỉ của mình nói, vừa hiểu được mấy câu sau, liền vội ngắt lời Hồng:

- Ngài Tham nói quả là chí lí! Tôi tuy quê mùa, học vấn còn kém cỏi lắm, nhưng cũng phải biểu đồng tình về sự đó. Hồi tôi mới ra đời, lăn lộn mười năm, đủ từ Nam chí Bắc, từ Lào sang Mên, chẳng nơi nào là không đến, chẳng nghề gì là không làm, mà trắng tay vẫn hoàn tay trắng. Mãi sau về đây buôn bán vụn vặt, cho thuê xe, cho vay tiền góp sơ sài mà mới gây dựng ra cái gia thế ngày nay. Ai dè bôn tẩu không nhằm chi, về nằm co lại tự dưng có của cải, mới biết lời tục không nhầm, có an cư mới lạc nghiệp!

Ông Cửu nói đến đó, liền buông một chuỗi cười dài, xoè cả cây quạt rộng bằng nửa cái nia, vung phành phạch. Ông cất cốc rượu, ngả người ra, nốc một hơi rồi mới ngó tất cả mọi người thử có chịu mình là một bậc lão thành lịch lãm.

Thấy Hồng cứ gật đầu, ông Cửu Đùm thích chí vểnh bộ râu tôm, ngất ngưởng kết luận rằng:

- Phải, trong mười mấy năm trời tôi phong trần đã lắm. Những mùi đắng cay mặn lạt ở đời tôi đều nếm qua, nên phàm việc gì cũng gọi là lịch thiệp. Bây giờ nhờ ơn trên đã được dư ăn dư để, nhưng vâng lời ngài Tham tôi còn muốn đem những chỗ biết hẹp hòi của mình ra gánh vác việc đời cho khỏi phụ lòng anh em mong đợi.

Nói dứt lời, ông Cửu đưa tay nắn lại cái vành khăn, chỉnh nét mặt, có ý làm ra vẻ nghiêm trang cho xứng với cái trọng trách mình sắp ra đảm nhận...”.

 

Phan Văn Dật tiếp tục phê phán người tư sản hãnh tiến này:

 

“... Nên mỗi khi ông xét đoán, phê bình về một người nào, tất ông lại lấy tư bản ông làm mực thước. Ai giàu hơn ông là người ấy giỏi mà ai kém ông là người ấy còn vừa, chí như những hạng nghèo kiết, thì dẫu ông không dám nói ra, trong bụng chỉ coi là đồ ương gàn, không đủ mà đếm xỉa. Nhưng người hơn ông đâu có nhiều, ra đường chỉ rặt là kẻ ăn làm đầu tắt mặt tối, thành thử ông hay có cái bộ khinh khỉnh, coi người bằng nửa con mắt. Tuy vậy ông Cửu không phải chỉ giao du với các nhà tư bản thôi, vì ông đã giàu rồi lại muốn sang, nên hễ gặp ông tai to mặt lớn nào là ông bắt quàng làm thân ngay. Sau hai bận đi Huế, người ta đã thấy trước ngực ông lủng lẳng chiếc bài ngà hàn lâm viện đãi chiếu. Về việc đó ông cứ phàn nàn mãi: "Nhà nước quá yêu mà ân tứ cho thế nầy, chớ thật tôi nhờ trời đủ bát ăn, có dám màng đâu danh vọng ". Ông dẫu nói vậy, vả lại vừa làm lễ tam sanh ăn ngũ tuần, nhưng vạn bất đắc dĩ phải chìu lòng anh em trong xóm mạc, ăn khao hết ba bò tám heo, rước đám hát đằng đẵng nửa tháng trời. Lắm người đã khen là ông tính việc gì cũng chu đáo lắm. Nhưng ông Cửu lại tiếc mình có tài năng nên ông còn muốn ra làm hội đồng thành phố. Muốn cho có vây cánh, ông bèn chơi thân với ông tham Hồng là người có thể giúp cho ông nhiều về việc ấy. Sắp đặt đã xong đâu đấy, ông chỉ còn phiền cái tên ông nó không có giọng quý phái chút nào, ông bèn nghĩ đổi ngay nó ra là Bạch. Nhưng dẫu danh thiếp ông gởi đi khắp thành phố, nhan nhản đề cái tên Cửu Bạch, thiên hạ cũng cứ quen mồm gọi ông là ông Cửu Đùm vậy. Ông biết thế, không vui lòng chút nào...”.

 

Bên cạnh một Nga thuỳ mị, dịu dàng, chung tình nhưng cũng biết vượt lên sự bất hạnh trong mối tình đầu để sống, xây dựng hạnh phúc một cách chính đáng, là hình tượng cô gái tân thời, nữ sinh Đồng Khánh tên Trà, con gái ông Cửu Bạch. Thật ra, Trà cũng không có gì đáng ghét. Cử chỉ giao thiệp của cô khá bình đẳng, tự nhiên, nhưng chưa đến mức lố lăng. Cách ăn mặc, trang sức ở Trà cũng kín đáo, trang nhã.

 

3. Sự phản đối khéo léo chế độ thực dân: Chút lầm lạc hiển ngôn và sự phản biện ẩn ngôn xuyên suốt

 

“Diễm Dương Trang” rõ ràng là tiểu thuyết về tình yêu đương và hôn nhân. Tuy nhiên, nếu chưa kịp hiểu ẩn ý của tác giả, người đọc hẳn sẽ cảm thấy bất bình thật sự, thậm chí muốn ném cả cuốn sách gần hai trăm trang này vào lửa, thiêu huỷ nó đi, khi đọc phải một đoạn ngắn khoảng dăm bảy câu văn:

 

“Trang còn đương loay hoay nghĩ thế thì đã đến nơi nghĩa địa của mấy người lính thủy Tây Ban Nha. Đứng trước các ngôi mộ ấy, chàng bỗng hồi tưởng lại cái khí tượng hào hùng của những kẻ xông pha trên mặt bể hiểm nghèo, những kẻ đó có lẽ coi nhẹ cảnh gia đình êm ấm. Cách sinh hoạt éo le của hạng người ấy, trên sóng, đầu gió, có một cái khí vị ngây ngất, phi thường... Trang bấy giờ nhận thấy cái ái tình nó nhỏ nhen quá. Ở đời còn thiếu chi sự nghiệp lừng lẫy đủ kích thích chàng? Hồi nhỏ đi học, chàng có nghĩ rằng đến lúc trưởng thành sẽ để tiêu trầm nghị lực trong chốn tình trường chăng?”.

 

Trang tỏ ra lầm lạc, trong khi anh ta thừa vốn liếng tiếng Pháp để có thể đọc, hiểu được đó chính là nghĩa trang của những tên thực dân Tây Ban Nha và Pháp, trong cuộc đánh chiếm mở đầu quá trình xâm lược thực sự của chúng trên đất nước ta, vào các năm 1858-1860, tại Đà Nẵng. Tại sao Trang lại ca ngợi chúng với những tính từ kêu vang đến thế? Thậm chí, chúng ta có thể kinh ngạc tự hỏi, tại sao thi sĩ Phan Văn Dật lại đặt ý nghĩ lầm lạc đến mức như thế vào chuỗi suy tư, tâm trạng trăn trở chân thành, thầm kín của nhân vật mà ông không giấu lòng yêu mến?

 

Tôi đã đọc, với sự sửng sốt, khi gặp phải những dòng chữ ấy, và cũng toan ném hoặc xé cuốn sách đi. Thế rồi, tự nhủ phải nhẫn nại, xem sao. Cuối cùng, tôi bình tĩnh đọc tiếp, và thấy rằng, đoạn văn trên quả là quá lạc lõng trong toàn bộ cuốn tiểu thuyết, như thể ai đó ác ý thêm thắt vào.

 

Ai cũng biết, tuy dưới ách thực dân Pháp cai trị và thế lực giáo quyền của các cố đạo Tây Ban Nha còn bao trùm, nhất là ở thời điểm tiểu thuyết “Diễm Dương Trang” ra đời, các thông tin về lịch sử xâm lược, thống trị nước ta đã dần dà hé mở. Ai cũng biết, từ năm 1921, cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim đã được ấn hành. Thế nhưng, nhân vật Trang của thi sĩ, nhà văn Phan Văn Dật lại lầm lạc đến mức không thể nào chấp nhận được!

 

Và, thật ra, ai cũng biết tác giả có quyền để cho nhân vật của mình ngu ngơ, mù mờ về kiến thức lịch sử, trong một thoáng ý nghĩ thôi, để rồi tác giả phản biện lại chút lầm lạc ấy bằng cả cuốn tiểu thuyết. Sự phản biện ấy lại nằm ở tầm sâu của bản chất nhân vật. Trang không thích, không muốn ở trong guồng máy nhà nước thực dân Pháp. Anh ta cực chẳng đã phải chịu làm việc tại Toà Công sứ Pháp ở một tỉnh trên cao nguyên để cứu lấy gia đình trước bờ vực nghèo đói, thất học, và nhanh chóng xin thôi việc, lao vào công việc lãnh hành (thầu khoán), một nghề tự do bên ngoài guồng máy của Pháp. Trong thâm sâu của bản chất Trang, đâu phải chỉ vì bị phụ tình hay chút tự do của người ôm mộng làm thi sĩ, mà anh đi đến quyết định ấy. Và chúng ta còn thấy, Trang rất mực yêu quý, kính trọng gia đình của cụ Nghè Thuyên, một nhà nho đỗ đại khoa, không muốn bị vấy bẩn cốt cách mình, tuy cũng chỉ là một người yêu nước thầm kín, bất khả kháng, ngậm ngùi xuôi tay, lánh đục về trong, trước thời cuộc: “Trang bấy giờ mới biết rằng ông Nghè Thuyên xưa, dù là một nhà tấn sĩ xuất thân, nhưng vì tánh tình phóng khoáng, quả hợp, lại gặp thời buổi khó khăn, sợ liên lụy đến mình, nên chẳng chịu ra làm quan; lại nhờ nhà có tiền của nên mới trưng sở đất ấy mà lập nghiệp. Trước, chỗ ở còn là cái nhà rường, ông Nghè đặt tên cho nó là "Diễm Dương Trang". Đến sau ông qua đời rồi, Oánh làm ăn mỗi ngày mỗi phát đạt thêm lên, mới bỏ cái nhà ấy đi mà cất lại sở lầu mới bây giờ, nhưng cũng vẫn dùng cái tên cũ”. Con trai ông, Oánh, cũng thế: “Oánh tuy là dòng dõi nhà nho, nhưng chẳng chịu dấn thân vào đường sĩ hoạn”.

 

Nếu chúng ta đồng ý với nhau rằng, chính tính khuynh hướng của toàn bộ cuốn tiểu thuyết mới thể hiện đúng tư tưởng của tác giả, như F. Engels đã nói, thì rõ ràng cả cuốn sách gần hai trăm trang có tên là “Diễm Dương Trang” này có sứ mệnh chính là mang chứa thông điệp bất hợp tác với chế độ thực dân Pháp, thể hiện thái độ, khát vọng lánh đục về trong của chính thi sĩ, nhà văn Phan Văn Dật.

 

Nói cho rốt ráo, riêng ở nhân vật Trang, có thể anh ta thực sự sai sót về nhận thức lịch sử, cụ thể về nghĩa trang Tây Ban Nha – Pháp ở Sơn Trà, nhưng bản chất anh ta lại đúng đắn đến mức đáng quý trọng. Nhân vật Trang, thậm chí, nếu quá khắt khe, ta cũng có thể quy anh ta vào loại người mang tâm lí, nhận thức lưỡng phân. Đó là loại tâm lí, nhận thức của những người sống dưới chế độ thực dân Pháp cai trị, mặc dù nhận thức có lệch lạc, mù mờ ở điểm nào đó, nhưng trên bình diện tổng thể, vẫn nhận thức được thực trạng mất nước của dân tộc mình, và trong thâm tâm, tận chiều sâu bản chất vẫn không bao giờ chấp nhận làm tay sai, nô lệ cho chúng.

 

Đó cũng chính là sự khôn khéo kín đáo của Phan Văn Dật trên văn đàn công khai.

 

Tôi cũng muốn nhấn mạnh một lần nữa: Đó là chút lầm lạc hiển ngôn (trên văn bản tiểu thuyết, đặt trong chuỗi suy nghĩ của nhân vật), nhưng cả cuốn tiểu thuyết là sự phản biện ẩn ngôn xuyên suốt (tính khuynh hướng của trọn vẹn tác phẩm), thể hiện thái độ, khát vọng bất hợp tác, lánh đục về trong của nhân vật và cũng của tác giả, cho dù ở dưới guồng máy cai trị của thực dân Pháp.

 

Và có lẽ để hiểu thêm, cảm thông thêm với nhân vật như Oánh, Trang và cả tác giả Phan Văn Dật, thiết tưởng cũng cần bàn thêm: Nếu đất nước độc lập, ý muốn tiến thủ trên quan trường, để tích cực góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước, không phải là không chính đáng. Vấn đề ở tiểu thuyết này là thực trạng đất nước còn trong vòng nô lệ, dưới ách thực dân. Trong bối cảnh bất khả kháng, thái độ, khát vọng bất hợp tác, lánh đục về trong mà “Diễm Dương Trang” chuyển tải, vẫn rất đáng trân trọng.

 

Nhìn chung, “Diễm Dương Trang” tuy là cuốn tiểu thuyết đầu tay và cũng là duy nhất của nhà thơ Phan Văn Dật, nhưng về kết cấu, cốt truyện và các chi tiết được sử dụng đã khá già dặn. Những tình huống được xếp đặt khéo léo, tự nhiên như thể tất yếu phải xảy ra như thế. Qua đó, nội tâm nhân vật, đặc biệt là các diễn biến tâm lí, được bộc lộ rõ nét. Về tính cách nhân vật, ông đã chú trọng khắc hoạ để các nhân vật nổi rõ như những con người thật, có cá tính, không chung chung, mờ nhạt.

 

Trong tiểu thuyết “Diễm Dương Trang”, tác giả có chủ ý sử dụng một số phương ngữ Huế - Quảng Trị (chưa kể một ít từ cổ, bấy giờ còn thông dụng...). Điều đó khiến cho tác phẩm có thể hơi vướng chỗ này, chỗ nọ, đối với một số người đọc chưa quen với những từ địa phương vùng đất này. Tuy vậy, chính những từ ngữ mang màu sắc địa phương khiến tiểu thuyết “Diễm Dương Trang” tạo được ấn tượng nhất thể giữa bối cảnh địa lí, khung cảnh xã hội địa phương và ngôn từ mang bản sắc địa phương ấy. Đó không phải là tiểu thuyết viết về những người Bắc Bộ hay Nam Bộ sống ở Huế, mặc dù Huế vốn là kinh đô (vẫn còn là kinh đô ở thời điểm đó), nên đất Huế không thiếu người từ khắp toàn quốc đến sống, làm việc và chọn Huế làm quê hương! Dĩ nhiên, như bất kì tác giả sinh trưởng ở bất cứ vùng đất nào trên đất nước, Phan Văn Dật cũng đã tiết chế, giảm đến mức vừa đủ liều lượng từ ngữ địa phương, để vừa giữ màu sắc địa phương, vừa hoà nhập vào ngôn ngữ phổ thông với tính nhất thống toàn quốc.

 

Vượt lên kĩ thuật, nghệ thuật vẫn là sự độc đáo, khá sâu sắc khi khai thác một khía cạnh đặc biệt trong tình cảm yêu đương và thông điệp của tiểu thuyết “Diễm Dương Trang”.

 

Với bài viết này, tôi đã mạnh dạn đề xuất một cách cảm thụ tiểu thuyết “Diễm Dương Trang”, với hi vọng nó sẽ được tái bản, không tiếp tục bị chìm vào quên lãng. Ít ra, trong những tiết học về văn học địa phương, các buổi sinh hoạt ngoại khoá tại quê nhà Quảng Trị, tiểu thuyết của thi sĩ Phan Văn Dật, từng chói sáng trên văn đàn cả nước cách đây 76 năm (1935), sẽ được các nhà giáo bình giảng, học sinh thuyết trình, thảo luận (*). Trong những lúc đó, xin đừng quên rằng Phan Văn Dật đã dành một quãng đời khá dài để nghiên cứu Hán văn và lịch sử, đạt được một mức độ uy tín nhất định trong giới học giả...  

 

TXA.

09:20 – 20:47, 14-12 HB11

& chiều 15-12 HB11

_________________________

 

(*) Cụ thể hơn, ở tiểu thuyết “Diễm Dương Trang”, có thể đoạn lầm lạc trong suy nghĩ của nhân vật Trang sẽ phải được ghi chú cải chính, theo yêu cầu khoa học, để bảo đảm thông tin đã được cải chính, đồng thời bảo đảm tính toàn vẹn của văn bản – tư liệu.

 

Thông tin về bản gốc và sách tham khảo:

1) Phan Văn Dật, “Diễm Dương Trang”, Trung Bắc tân văn, Hà Nội – 1935. Bản gốc có ở Thư viện quốc gia tại Hà Nội (xem trang thông tin điện tử).

2) Nhiều tác giả, “Từ điển văn học”, bộ mới, Nxb. Thế Giới, 2004, tr. 1399-1401 (mục từ “Phan Văn Dật” do Phạm Phú Phong viết).

 

Phụ đính: Cốt  truyện:

 

Phan Văn Dật theo lối viết tiểu thuyết khá hiện đại của thời bấy giờ, nên chúng ta có thể thấy câu chuyện được diễn biến chủ yếu theo trình tự thời gian nhưng vẫn xen vào những chương đoạn hồi ức, nhằm làm sáng tỏ những góc khuất trong tâm trạng, bước ngoặt cuộc đời của nhân vật.

 

Câu chuyện bắt đầu ở bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng. Trần Hoài Trang, một thanh niên khoảng chừng 25, 26 tuổi, đang trong những ngày phục hồi, bồi dưỡng sức khoẻ, sau những trận ốm sốt rét và bởi vết thương trong tâm hồn. Đi cùng với Trang là cậu bé giúp việc tên Cồ, trước kia người ta hay gọi là tiểu đồng. Trên bãi biển Mỹ Khê này, anh ta tình cờ gặp hai mẹ con, người con là cô gái còn trẻ nhưng đang mang tâm bệnh. Tình cờ anh cũng gặp được Oánh, bạn cũ. Oánh chính là con trai của người mẹ kia, anh trai của cô gái nọ: bà Nghè Thuyên và cô Tư Nga. Câu chuyện lại quay về quá khứ, cho người đọc biết: Trang vốn là một lưu học sinh trường trung đẳng ở Hà Nội, vì cha đột ngột mất, nên phải về Huế, đành đoạn bỏ học dở dang, nộp đơn xin đi làm, để có đồng lương giúp mẹ và hai em. Trang được bổ đến Toà Công sứ tại một tỉnh cao nguyên, với vai trò nhân viên thư kí. Nhưng khi gia đình đã tạm ổn với cửa hàng buôn bán nhỏ, Trang muốn thôi việc, để sống cuộc đời một người hành nghề tự do. Chắc hẳn anh ta không muốn bị ràng buộc vào guồng máy nhà nước thực dân. Và còn bởi một lẽ khác, Trang đang nuôi mộng trở thành thi sĩ. Nhưng phải đến khi Trang nhận được thư phụ tình của Dinh, cô bạn từ thuở bé và hiện là người yêu của Trang, Trang đau đớn tột cùng, quyết tâm bỏ việc ở Toà Công sứ để đi chung vốn làm lãnh hành (thầu khoán). Anh bị sốt rét ngã nước trong những tháng ngày lãnh hành này. Và hiện tại, ở bãi biển Mỹ Khê, anh đang tự chữa cả hai căn bệnh cùng một lúc: tâm bệnh và thể bệnh. Qua những lần gặp gỡ trên bãi biển, Trang thầm yêu Nga. Qua cậu bé Cồ, Trang biết Nga cũng đang đau khổ đến mức trở thành tâm bệnh, vì người yêu là Thạch, sinh viên trường thuốc, vừa mới chết vì bệnh. Trong những ngày Oánh ở đó, lại có thêm hai nhân vật xuất hiện: ông Cửu Bạch cùng viên tham tá trẻ tên Hồng. Tham Hồng cũng bị goá vợ cách đây mấy năm. Tham Hồng chừng như cũng muốn tục huyền với Nga. Trong tình huống đó, Trang xem ra lép vế nhất, nhưng chính Nga lại tỏ ra có cảm tình với Trang nhiều hơn. Tuy vậy, Nga vẫn đang ở trong giai đoạn khổ đau vì mất Thạch, lòng lạnh giá. Lại một tình huống nữa: Oánh mời cả nhà và Trang đi chợ đêm Đà Nẵng. Nhưng Nga đang ngụp lặn trong trạng thái chợt vui chợt buồn của một người sầu khổ, Nga không muốn đến những chỗ đông người. Ngờ đâu, khi Trang vào chợ đêm ấy, lại gặp viên tham tá Hồng đang đi cùng gia đình Nga, gia đình người tư sản Cửu Bạch, Hồng lại đi kề Nga nữa! Trang thật sự rơi vào tuyệt vọng. Hoá ra, về sau, Trang mới biết, chính vì cô con gái của Cửu Bạch, nữ sinh Đồng Khánh tên Trà, mời ép, đến mức Nga không thể từ chối! Và chỉ vậy mà thôi. Thế rồi, gia đình Nga trở về Huế. Trang cũng về nhà ở ngoài đó. Gia đình Trang lại muốn Trang lập gia đình, quên hẳn Dinh đi. Trang tìm cách lên trang trại của gia đình Nga để thăm viếng... Lên đến nơi, Trang càng biết rõ đó là cơ ngơi của ông Nghè Thuyên, một người đã đỗ tiến sĩ, nhưng tính tình, theo nguyên văn trong tiểu thuyết, là “phóng khoáng, quả hợp” (thích tự do, ít hợp ý với những kẻ tầm thường khác), vì “thời buổi khó khăn” (dưới ách thực dân) nên không ra làm quan, mà tìm về một miền đất dưới chân rừng núi để lập trang trại, có tên là Diễm Dương Trang. Trong gần một tháng, Trang có nhiều lần từ quê nhà, ngoại ô phía đông kinh đô Huế, đạp xe lên ngoại ô phía tây, thăm Diễm Dương Trang. Trái tim của Nga hình như đã hồi sinh, ấm lại. Giữa Nga và Trang hình như đã nẩy sinh tình cảm, nhưng cả hai đều im lặng. Trang chưa một lần dám ngỏ lời. Trang rụt rè sợ thất bại, bởi vết thương phụ tình do Dinh gieo vào lòng anh ta. Nga lại đang phân vân, giằng xé giữa sự chung tình với Thạch, người đã khuất, và chút tình với Trang. Đó là chút tình mới âm thầm chớm nở trong kìm nén, Nga giấu tận đáy sâu lòng mình. Thế rồi, ông Cửu Bạch cùng vợ từ Đà Nẵng ra, có cả cô con gái tên Trà, nữ sinh Đồng Khánh, từ Huế lên. Thì ra, ông Cửu Bạch ra thăm để ngỏ lời dạm hỏi Nga cho viên tham tá Hồng, bạn nhờ vả vong niên của ông ta. Cũng do sự hiểu lầm của Nga trước sự ngẫu nhiên xảy ra – bởi cành lá dâu bật lên, rơi bụi dằm vào mắt Trà, lúc cô rủ Trang hái dâu –, và cách cư xử rất tân thời của Trà trong tình huống ấy, Nga trốn, tránh mặt Trang. Trang không thể tìm gặp Nga. Và Trang đinh ninh anh hoàn toàn thất thế, mất hẳn Nga. Anh về nhà, quyết định trở vào tiếp tục làm thầu khoán như cũ, lao vào công việc để quên đi nỗi đắng cay. Trước khi lên đường, anh vẫn còn đạp xe lên lại Diễm Dương Trang để chào gia đình bà Nghè Thuyên, đặc biệt là Nga. Anh bất ngờ khi biết Nga đã từ chối lời cầu hôn của Hồng, trước mặt gia đình mình và gia đình ông Cửu Bạch. Và bấy giờ, ở tình huống anh lên để chào từ giã, Oánh và bà Nghè Thuyên thì đã quá hiểu Trang, lại thương anh rụt rè, nhút nhát, nên họ mớm lời cho Trang, để Trang đủ mạnh dạn tìm gặp Nga, ngỏ lời. Trước sân nhà, dưới bóng trăng, thay vì với ý nghĩa mừng đám cưới Nga – Hồng, là ý nghĩa giao ước giữa Nga – Trang, Trang trao chiếc nhẫn vàng cho Nga. Trang nâng tay Nga, đeo hẳn chiếc nhẫn ấy vào ngón tay Nga. Ngay lúc đó, Trang nói: Nga đau khổ, Trang cũng đau khổ; hai người đau khổ có thể giúp nhau làm lành lại vết thương trong tâm hồn nhau. Nga, bấy giờ, theo nguyên văn trong tiểu thuyết, “run rẩy, ái ngại: Ta liệu có gây nổi hạnh phúc cho nhau không?”. Và “dưới bóng trăng vằng vặc”, họ đã “tay cầm tay, nhìn nhau, yên lặng...”. Tiểu thuyết kết thúc với ba dấu chấm lửng.

 

Tặng bạn Vũng Tàu - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) góp ý (4)   

Tặng bạn Vũng Tàu

                 Cho LVH

alt


Thằng bạn lắm trò quái quỷ

Độc thân quá nửa đời người

Mê toán, guitar, tin học

Tự dưng mất hút bên trời

 

Một ngày bỗng con dế* réo

Hắn trách: lâu không gọi, mầy?

Ừ nhỉ! Có đâu rỗi rảnh

Tạc thù nồng nã men cay

 

Hắn bảo: răng thơ không tặng?

Phổ vài ca khúc cầm tay

Tán phét mãi rồi cũng chán

Hát hò cho các em say

 

Đùng đùng hắn về thăm quê

Dẫn theo một o Vũng Tàu

Xinh chi mà xinh đến tệ

Cái nhìn sắc lẻm dao cau

 

Thật lòng ta rất thương hắn

Phải cung lao ái sóng trùng

Từ nay bạn bầu khó gặp

Rượu hòa nước mắt rưng rưng!

 

                   20/12/2011

                    vovanluyen

Phố biển

Thơ Trackbacks (0) góp ý (4)   

 

Phố biển

       Tặng THTT 

 alt

Ảnh có tính chất minh họa

 

Thành phố ngôi nhà chim câu

Đón gió lồng cửa biển

Cái vỗ cánh màu nhiệm

Vẽ lên khát vọng trời xanh

 

Thành phố có bao nhiêu đường về nhà em

Hoa vông vang một thuở

Mưa cổ tích dây dây nỗi nhớ

Đôi mắt u huyền

 

Thời gian lòng vòng tìm dấu xưa in

Xanh rêu kỷ niệm

Ôi tháng ngày thật thà như đếm

Chỉ một bước chân mà không đến được nhau

 

Cơ chi đường ngang ngõ tắt trở lại ban đầu

Nguyên khôi điều ước

Ta có ba vạn sáu ngàn ngày đục trong con nước

Về đây biển vẫn cứ màu xanh.

 

                                   Quy Nhơn,  1996

                                           VVL

alt

   Eo Gió Qui Nhơn

Mùa xuân về cưới - thơ Võ Văn Luyến

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   

Mùa xuân về cưới

alt


một chút rét vừa đủ nhớ

một chút xanh, biếc gió chim về

ngoài kia

lất phất mưa cổ điển

em ảo huyền

đính lên màu hoa

lạ phố


câu thơ tôi hăm hở

giọt nhân gian ấm nồng

đâu phải chơi trò sắc không

mùa xuân về cưới

em biết không?

 

Coffee maithanh, 11/12/2011

              vovanluyen

Về - thơ VVL

Thơ Trackbacks (0) góp ý (2)   

   Về

 alt

Ta về cất vó tơ chùng

Xe mưa cuối dốc cát hung phận người

Một thôi đường. Một chiều rơi

Một hôi hổi nhớ, một rời rợi xưa

 

Ta về rũ bụi nghi ngờ

Nhặt lên tiếng vọng chuông chùa buồn tênh.

               

                          9/12/2011

                        Võ Văn Luyến

Võ Văn Luyến trên trang Nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa

Nghiên cứu- Phê bình Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Võ Văn Luyến – "người câu bóng mình"

(Nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/lethienminhkhoa/article?mid=185)

alt

lethienminhkhoa: Tôi chưa từng gặp nhà thơ Võ Văn Luyến, nhưng vừa nhận được tập thơ mới của anh  qua EMS, tôi đọc ngay- đọc nhanh như tác giả đã cho chuyển phát nhanh tặng tôi.

Ấn tượng đầu tiên là tên tập thơ. Cũng như hai tập thơ trước:  Trầm hương của gió ( NXB Thuận Hoá, 2003), Sự trinh bạch của ngọn nến ( NXB Hội Nhà văn, 2007), tên tập thơ "Người câu bóng mình"( NXB Hội Nhà văn, 2011) mang tính ẩn dụ, nhưng lạ lẫm, không tượng trưng- ước lệ, là ẩn dụ "phi giao tiếp"; nó " ám ảnh", "khích động " hứng khởi trong tôi...

Đoc xong tập thơ, tôi lại "bảo lưu " ý kiến trước đây khi viết về phong cách thơ VVL:" ngày càng lắng sâu vào triết học với tâm thái vừa tự thoại - vừa đối thoại. Như là một đam mê tao nhã mà vật vã, nhọc nhằn (những câu thơ ngấu bùn/ tạc người nông dân lấm láp/ và nụ cười in trên gương mặt- Thơ VVL) để tiếp cận, chiêm nghiệm hiện thực hầu  tung phá, đột phá, sáng tạo nên những hình tuợng thơ độc đáo, táo bạo, tươi mới, mà lắng động cảm xúc và trí huệ...."

  Qua tập thơ nầy, tôi cảm nhận thêm nhiều điều về/ở thơ anh (thực ra, đã có từ trước trong thơ anh). Với ngôn ngữ dung dị, chân quê, chất thơ bay bổng mà rất khúc chiết, anh gói ghém trong thơ những khám phá mới lạ, những tứ thơ độc đáo , "không giống ai",cả về những đề tài quá quen thuộc sáo mòn mà các thi nhân đã đi "mòn đuờng, chết cỏ". Chẳng hạn, về đề tài quê hương Quảng Trị. Đã hình thành mấy lối mòn.  Hoặc tự sự theo kiểu "đi bộ": Ta đã về đây Quảng Trị ơi!...rồi kể lể các địa danh: Thành Cổ, Cam Lộ, Gio Linh , Bến Hải ... được phân bố đều cho các câu thơ, khổ thơ trong bài. Hoặc cũng viết về một vùng đất, con người cụ thể mà chỉ để ôn lại kỷ niệm rồi yêu thương, luyến tiếc, ân hận, tự hào...v.v và v.v ...Dĩ nhiên không phải ai cũng men theo "lối mòn". VVL cũng thế. Riêng về câu chữ, anh không những kể, tả kết hợp mà còn "nén",  nên rất gợi - gợi nhiều tầng. Như là vùi sâu, nhấn chìm tâm tình , suy tưởng xuống để rồi do sự "cựa quậy" của hồn chữ , lại tự nổi lên với người đọc đồng điệu.

Trong thơ VVL, nhiều ý tưởng tâm trạng, cũng có người đã trải qua, nhưng không nắm bắt được, diễn tả được. Tôi cũng vậy; đọc thơ của Luyến có khi tôi thấy "bóng mình" trong đó, có điều tôi chưa "câu" được, chưa nói ra được thôi. À... đến đây, tôi lại nhớ đến câu nói nổi tiếng của nhà thơ Gamzatôp: "Nhân dân sản sinh ra nhà thơ để nói hộ nhân dân những điều mà nhà thơ không nói được". Mà thú thiệt, có những bài thơ của Luyến khơi gợi rất mơ hồ, mới đọc tôi chỉ "cảm" mà chưa "hiểu" hết được.  Cảm, chưa hiểu nhưng xúc động và thấy hay. Có người cho rằng thơ anh gây "đốn ngộ", tôi đọc thơ anh lại "tiệm ngộ" dần về cảm thức chìm sâu trong tình, từ và tứ thơ của anh...

Tôi không trích dẫn nhiều thơ anh trong chapeax nầy, mà  để dành để bạn đọc tiếp cận. Để giới thiệu "Ngừơi câu bóng mình", tôi xin phép chọn ba mục theo đề tài (sự phân chia này là tương đối vì nhiều bài thơ của anh là phép hội hoặc phép giao giữa các đề tài và đề tài thơ anh  rộng hơn thế nhiều):  QUÊ HƯƠNG - MẸ CHA - THÂN PHẬN.


 1.QUÊ HƯƠNG:

 alt

Gặp người thợ xẻ đá trên đất Gio Linh


Chỉ tiếng búa trầm đục

Đá lặng thinh

Người lặng thinh.

 

Ngỡ như đá và anh cùng cháy lên ý nghĩ

Ngỡ như đá nén cơn đau cho tóc sương nhẹ âu lo, có thể

Cũng có thể đá thi thố với anh

Sức rắn kém gì nhau

Kém gì sự kiên gan thử thách!


Nếu đó là cuộc chạy đua đường dài

Anh sẽ rớt lại sau cùng

Nhưng điều lựa chọn đâu riêng cuộc mưu sinh

Mà nghĩa nhân vẫy gọi đài tháp

Đấy là những đài tháp xa lạ màu sơn trang sức

Và tôi thấy ở anh

Niềm vui đóng dấu nụ cười.


Chỉ tiếng búa trầm đục

Người lặng thinh

Đá lặng thinh.

                       13/3/2011

 

Sự minh triết trong thành Tân Sở

                (hay tấc lòng của vua Hàm Nghi)

 

Những núi đồi cỏ xanh ngậm sương

Có gì đăm chiêu trong mắt ngựa chiến

Kinh thành sau lưng lửa trời binh biến

Cháy tâm can. Rạn vỡ đêm dày.

 

Tân Sở màu chiều. Mây thấp, mưa bay

Tiếng tắc kè lửng lơ cơn gió

Giễu nhại điều chi giương câu thách đố

Ta dễ gì tắc kế, tắc kè ơi !

 

Câu thơ tiền nhân đá tạc, dặm soi

Ta hạ Chiếu Cần vương cầu thảo dân trăm họ

Đất nước gian lao máu bầm còn đó

lồng lộng giá gương, một tấm nhiễu điều.

 

Thân đế vương có tan trong ngọn lửa thiêu

Châu báu ngọc ngà có thành đá rữa

Nhưng nụ cười phải vang lên sau từng ngõ nhỏ

Ta sẽ dựng yêu thương trên cây thanh bình.

 

Đêm nằm nghe nước réo vách tim

Ba vạn sáu ngàn thác mơ đổ về một lối

Âu vàng non sông, thanh gươm giữ cõi

Tấc lòng xin sống chết với thanh thiên.

 

 

GIẾNG QUÊ

       Kính tặng các làng giếng GIO AN (1)

 

Mạ tôi bảo:

Con ơi, những lúc muộn phiền soi mặt vào giếng nước quê ta

nỗi đau mù sương theo gió lên trời

hạnh phúc long lanh kết thành chuỗi hạt

hãy đem tặng người phiêu dạt xa xôi.

 

Cha tôi bảo:

Những lúc nguy nan lấm bụi đường lạc bước

hãy tìm về mắt giếng mẹ gương soi

con sẽ thấy nhân gian mất, được

không gì buồn hơn giếng - tuổi - thơ rơi.

 

Chị tôi bảo:

Tìm tình yêu đừng đi đâu xa

giếng làng mình trong veo mắt biếc

con gái làng mình ăn cây rau Liệt (2)

nên ngàn năm roi rói lộc quê nhà.

 

Em tôi bảo:

Khi nào anh thơ thẩn vào ra

nói câu trước, quên câu sau hãy nhớ

ra giếng hỏi Bống có về thả lá

sao bùa mê giăng mắc giữa thiên phòng?

 

Và riêng tôi:

Khẩn nguyện trước vô cùng

Ơn giếng làng - hồn trời đất bao dung.

------------------------

(1) Gio An, một địa danh có nhiều giếng cổ (giếng Chăm) được xếp hạng di tích QG.

(2) Rau Liệt: Còn gọi Xà lách xoong, một đặc sản nổi tiếng của Gio An , Gio Linh

 

Qua Cồn Nhĩ Hạ


Ướm ngày

nõn nường chợ sớm

rét ngọt

chạm xuân


Líu ríu bước chân

liu riu con nước

thương em sương mờ nhật nguyệt

sim mua tím nỗi niềm riêng



Bao cồn dựng thành tên

mỗi Nhĩ Hạ huyền hồ huyền hoặc

mỗi Nhĩ Hạ buồn vui khó nói được

mỗi Nhĩ Hạ…

 

Trách chi trẻ con hồn nhiên tinh nghịch

mắt trong veo đùa gió vô tình

gió đưa hương trời đất

vạn nẻo đường thân chinh.


Đặt Nhĩ Hạ vào tim

tôi nghe nhịp đập.

 

                   13/1/2011


 Đò ơi, sông chảy

 alt

Đò ơi, sông chảy
Đập cánh bay bầy chim xứ lạnh

về phía mặt trời bốc cháy

Đò ơi, ta nhớ người

nhớ đầy vơi bạc trắng áo người phơi.


Đò ơi, năm xưa máu loang dòng sông

Đá Đứng vẫy đầu nguồn

thanh gươm dựng non Mai sông Hãn

câu hò khoan dựng mái chèo chém sóng

Như Lệ muối đọng mắt người

Tích Tường bờ xôi bãi mật

phù sa non.


Chưa xa ngày mẹ tin con

Thạch Hãn một bờ lau trắng

đò ơi, cồn cào sông cạn

trăng sao thắp nến nhớ người.


Đò ơi,

đá hoá sông bồi

giấc mơ khói sóng ru lời cỏ xanh...

            
             17/02/2008

 

 2. MẸ CHA.

   alt

                      Mừng đại thọ Mẹ: "Mẹ cầm chín mươi tuổi"

ĐẠI THỌ MẸ

 

Mẹ cầm tuổi chín mươi

Che một trời giông gió

Cho con hái nụ cười

Râm ran NGÀY ĐẠI THỌ.

 

                26. 9. Canh Dần (02/11/2010)

 

NHỚ CHA

 

Cha khuất núi. Mười một năm

Gió hun hút thổi, trầm lăn sóng buồn

Con đò giạt phía hoàng hôn

Bờ tre lả ngọn. Mưa bồn chồn rơi

 

 Mười một năm. Biệt phương trời

Nắng mưa

         Ấm lạnh

                Khóc cười còn đau…

 

 alt

 

Võ Văn Luyến bên lăng mộ cha


Mẹ vùng lũ quê


Con nước đỏ về rồi

Lều tranh mẹ bập bênh giữa sóng

Năm nắng mười mưa siêng năng làm lụng

Chừ âu lo chiếu đất màn trời.



Thời gian giát bạc tóc mẹ tôi

Bao câu hát đủ chua cay ngọt đắng

Đi hết tuổi thơ. Mẹ lưng còng, tôi đứng thẳng

Biết làm sao, thương nhớ lặn vào trong.

 

Ai còn mong, ai chờ trông

Đành gửi lại chân trời góc biển

Mẹ không trách gì tôi vì lỗi muộn

Dẫu nhịp đập bất thường: cơn nhói của tim.


Dẫu một mai ngơ ngác đi tìm

Khi mẹ đã nằm nghe cỏ khóc

Ở nơi xa em nào đâu biết được

Giông bão trong tôi nhân đến trăm lần.

 

                          Mùa lũ 1991.

 

Mẹ ơi, xuân đến rồi kia

Khi những sợi mưa tơ giăng trước nhà
Những nụ xuân nói điều chi thật khẻ
Con thấy rỡ ràng trong mắt mẹ
Nhìn đàn cháu líu lô chúm chím gọi bà 

Tuổi chín mươi ngày gần tháng xa
Đong mưa nắng ủ mầm hạt nhớ
Đêm ngắn hơn chiêm bao
Tự tình mẹ với ngọn đèn trăn trở 

Xa nhà ba mươi năm
Không phải chiến tranh ném con vào lửa
Cũng chẳng phải áo cơm níu chân không về được nữa
Mà con xa những nỗi buồn thấm vạt áo mẹ từng đêm 

Nhớ chiếc lược sừng chải tóc mẹ ngày xanh
Nhớ quạt mo cau bắt ngày lên gió
Nhớ rơm rạ ấm nồng giấc ngủ
Nhớ sắn sượng, khoai hà nuôi lớn tuổi thơ 

Bây giờ các cháu mẹ sáng đón chiều đưa
Cá thịt ê hề, rạng ngời áo đẹp
Đâu thấu nỗi cơ hàn nghẹn lời câu hát
Nhưng xuân đến rồi kia! Mẹ làm lá xanh mùa.   

                              22/11/2008


3.THÂN PHẬN.

 

người câu bóng mình

người đàn ông giết mình bằng thời gian

bằng những hạt hồng cầu mê ngủ

bằng những con chữ U chạy nhanh như gió

úp ngược chiều trái tim


người đàn ông ngửa cổ cầu bình yên

một nghìn năm sau, một nghìn năm trước

hạnh phúc nát nhàu, tình yêu mất được

tiếng mõ, câu kinh cạn đêm linh hồn


người đàn ông bỏ quên nụ hôn

bỏ quên bông hồng bông hồng bông hồng ngoài cửa sổ

bỏ mái chèo khuya, bỏ ồn ào phố

ngồi câu bóng mình...

 

                           13/5/2010



Vần tháng giêng

 

Tháng giêng vào ta, gió lộng trăng ngà đồng xanh sương trắng.

Cúc áo nở bông bèo vẫn trên sông mẹ ta lưng còng gậy cong tay nải,

này người em gái mà mắt thị thành mà áo phong phanh ngó sen ngơ ngác.

 

Tháng giêng vào ta, cò ơi bay xa tìm về với mẹ,

tuổi thơ thỏ thẻ, chuyền năm chuyền ba, cỏ gấu cỏ gà chơi trò đánh bắt,

mượn thuyền khoan nhặt câu hát vu vơ, mượn chuyện sông hồ hồn thơ ngụp lặn.

 

Tháng giêng vào ta, mắt ướt mi ngoan xúng xính đỏ vàng đồng tiền một lúm.

mấy nụ tươi thắm nở giữa trong veo buồn chi giàu nghèo xuân cho tất cả.

 

Tháng giêng vào ta, có mẹ có cha có ông có bà có con cá bống.

Có vườn ươm nắng nhả ngọc bầu trời có cả chuỗi cười kết thành tràng hạt,

câu kinh lạc mất ở phía niết bàn, người gánh đa đoan chất miền trần thế.

 

Tháng giêng vào ta, bão gần bão xa triều cường lũ cuốn.

Tháng giêng vào ta, hoa cưới phố làng.

Tháng giêng vào ta, lúa cóng bên sông.

Tháng giêng vào ta, mơ ước đòng đòng...

 

 Cầm tuổi vào mùa      

Cha lên non cao đốn củi 
mẹ ra gánh nước đầu sông
vàng cải hoa lay bước mỏi
em đi về phía nghìn trùng
       
Ngọn nguồn làm chi, khó nói
trời xanh thì cứ vô cùng
miết tìm đôi bờ sương khói
miên trường một đốm rưng rưng

Chiến tranh cơ hồ xa lắc
Phong thư trĩu nặng tay cầm
Rù rì tháng năm mật đọng
rỏ vào vạt nắng mùa xuân.  

 

Khúc trầm gửi miền sương ngọt

alt
Mấy mùa sim hẹn tôi về

Nắng day dưa nhớ, mưa mê mải tìm

Chong đèn đếm nhịp sầu tim

Núi hờn trổ ngọn, dỗi tình đơm bông

*

Mấy mùa sương lụa còn không

Chiêm bao trốn gặp gió thông thênh gầy

Đường quen lá vẫn đan tay

Yêu thương mật đọng, nồng say thuở nào

*

Mấy mùa trăng lạc ca dao

Cỏ hoa chúm chím môi đào dạ thưa

Mây ngoan buông sóng mặt hồ

Tơ chùng thả sợi ngẩn ngơ xuống lòng

*

Mấy mùa bướm trắng thong dong

Chợ Phiên hút bóng người không thấy về

Nẻo vui phố cưới cơn mê

Chiều xa ngồi vớt câu thề trôi sông...

 

                    Trại viết Cam Lộ, 8/2008

Tìm xưa

 

những câu thơ lạc gió

biết tìm đâu bây giờ

đêm huyền phiêu lạc ngõ

ta mịt mùng lối xưa.


alt

VVL dưới ống kính của Hoạ sĩ Võ Xuân Huy


Nghịch lý

Tuổi chín, trái hương vòi vọi. Nhớ

ngày xanh tơ nõn. Dắt hồn nhiên.

Em xa, trời rỗng. Mây xé gió

Ta vấp chân mày đau muốn điên.

 

                           19/01/2010
                          VÕ VĂN LUYẾN

 

 

Đất - lạc bướm (thơ VVL)

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   

Đất

 alt

Những quặn thắt của đất

Rút ruột mình cho cây

Ngắm ngọt ngào lá thắm

Riêng mình bạc màu mây


Lạc bướm

 

Một giò phong lan đầu nguồn

Về trước hiên nhà kịp nở

Tiếc mỗi nồng nàn làn hương

Bướm rừng ngẩn ngơ lạc gió


                 Võ Văn Luyến

         (Rút trong Tứ tuyệt VVL, 1995)

Mẹ là cả thế giới của con - Lê Thị Minh Huyền

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) góp ý (2)   

Thạc sĩ Ngữ văn Lê Thị Minh Huyền hiện là CV Phòng Tổ chức – Chính trị & Công tác SV trường CĐSP Quảng Trị. Một đồng nghiệp trẻ, gần gũi trong công tác và đồng cảm nhiều mặt về văn chương, tôi đã tìm gặp trên Dân trí bài viết của cô về Mẹ rất xúc động. Xin khuân về nhà để bạn bè cùng sẻ chia. (VVL)

 

Mẹ là cả thế giới của con

 

(Dân trí) - Một buổi sáng bất chợt tỉnh giấc, bàng hoàng nhận ra con không còn có mẹ ở trên đời. Có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau ấy?

Ngày xưa có mẹ, hai mẹ con như hình với bóng. Mỗi khi ngồi bên nhau, không bao giờ hết chuyện để nói. Mẹ kể cho con nghe chuyện về ông bà, dì, cậu; về cuộc đời côi cút và lắm gian lao của mẹ. Mỗi lần mẹ kể, hai mẹ con lại cùng khóc, cùng cười.

alt

Mẹ đã kể bao lần con không nhớ nổi, thế mà con vẫn muốn nghe và vẫn cứ khóc ngon lành như lần đầu nghe chuyện. Mẹ dạy con biết làm văn, học toán, dạy con biết đối nhân xử thế ở đời. Mẹ lo cho con từng bữa ăn, giấc ngủ, ngồi thức suốt đêm bên con mỗi lúc con đau. Mẹ biết mọi sở thích của con - con nghĩ gì, muốn gì, cần gì - cho dù con chưa một lần nói ra những điều đó. Chỉ có mẹ là người duy nhất vẫn tựa cửa chờ con mỗi lúc con đi xa về, cũng như mỗi lần con thi cử. Mẹ vẫn lén vào phòng con, nhẹ thơm lên trán con những khi tưởng con đã ngủ say; lén lau đi những giọt nước mắt thương con sau mỗi lần đánh con đau vì con bướng bỉnh không nghe lời. Mẹ ơi, dù chưa bao giờ nói ra thành lời nhưng lòng con ngập tràn thương yêu vô hạn! Mất mẹ, chúng con lại trở thành những đứa trẻ mồ côi.

 

Cuộc đời đã quá bất công với mẹ, một người lẽ ra phải được hưởng hạnh phúc. Mẹ đã chịu nhiều mất mát, thiệt thòi. Chưa đầy một tuổi mồ côi cha, năm tuổi mồ côi mẹ, mẹ phải sống những tháng ngày xa người thân ở trại trẻ mồ côi trong cô đơn, thiếu thốn, sợ hãi. Khi đi học, lại phải chịu cảnh thiếu đói triền miên, đau ốm nhiều mà thuốc thang không có. Ra trường, mẹ đi dạy xa rồi lấy chồng. Tưởng thoát khỏi cảnh đời bất hạnh, ai ngờ…

 

Sinh xong con mẹ phải đi mổ tim. Mẹ sống những tháng ngày đau đớn về thể xác, dằn vặt về tinh thần. Mẹ không biết phải làm sao khi yêu thương ba và con vô hạn, nhưng sẽ thật ích kỉ nếu tiếp tục làm khổ ba và ông bà nội. Mẹ biết bệnh mình chỉ có thể sống được trong một thời gian ngắn và không thể tiếp tục sinh con, vì như thế chẳng khác nào tự sát. Oái oăm thay, ba lại là đứa con duy nhất của ông bà. Ví như con là con trai thì đã đành một nhẽ...

 

Mẹ nghĩ đến việc để con lại cho ông bà nuôi, để cho ba đi bước nữa, còn mẹ về quê. Nhưng ba không đồng ý, ba cũng yêu mẹ nhiều như mẹ yêu ba. Mẹ ở lại, nghỉ dạy, thuốc thang chạy chữa, mở quán bán hàng để đỡ đần vất vả cho ba.

 

Rồi bệnh mẹ thuyên giảm. Khi con lên tám thì mẹ sinh thêm em. Dù biết làm thế là tự tìm đến cái chết nhanh hơn, nhưng thương ông bà, thương ba, mẹ chấp nhận tất cả.

 

Đang vui mừng vì sinh được cho ông bà cháu trai, mẹ bàng hoàng khi biết tin mình lại mắc thêm căn bệnh quái ác nữa. Hai lần sinh, hai lần mẹ nhận án tử hình. Thế mà, chưa lần nào và chưa có ai nghe mẹ oán thán nửa lời.

 

Mẹ lại đến trường, lại cầm phấn, đêm ngày miệt mài bên trang giáo án và những tập bài kiểm tra. Giữa lúc sức lao động của mẹ sắp được đền đáp vì những thành công mà mẹ mang lại cho đội tuyển học sinh giỏi của trường thì bệnh mẹ nặng thêm. Mẹ nhập viện khi nhà vừa mới xây xong mà chưa kịp ở. Mẹ nhập viện với 300 ngàn còm cõi lấy từ con heo đất của con. Nhà mới làm xong còn nợ nần chồng chất, tiền thuốc cho mẹ và bà nội cũng không ít, thành ra nhà mình lúc nào cũng chật vật. Mẹ chưa một ngày được hạnh phúc trọn vẹn! Lúc đó, mẹ không muốn đi, mẹ muốn chờ con thi xong, nhưng bệnh của mẹ không cho phép con giữ mẹ ở nhà nữa. Mẹ đã không thể leo được cầu thang mà phải bò hoặc nhờ ai đó cõng, không thể nói một hơi dài mà không thở hắt ra, không thể tự đứng lên nếu ngồi xuống. Có những đêm, con và ba thức cả đêm vuốt ngực cho mẹ vì mẹ không thở được. Đôi lúc, trong đêm, mẹ khóc một mình ở góc vắng nào đó trong nhà. Mẹ linh cảm, mẹ lo sợ, mẹ đau đớn... Mẹ đã gắng gượng chống đỡ nhưng lực bất tòng tâm.

 

Rồi mẹ đi. Đồng nghiệp của mẹ ngỡ ngàng vì chẳng bao giờ nghe mẹ nói mẹ bệnh. Ông nội ở trong phòng lặng lẽ khóc, bà nội vật vã đau buồn khôn xiết, khóc nấc từng hồi. Em con gào khóc đòi mẹ, từ nhỏ nó có bao giờ chịu rời mẹ đâu. Ai cũng tiếc thương mẹ. Con hẫng hụt, nhói buốt tâm can. Con không tin, không muốn tin là mẹ không còn trên đời này nữa. Con sẽ sống thế nào mà không có mẹ? Tất cả mọi thứ con có đều mang hơi ấm bàn tay mẹ, đều liên quan đến mẹ. Mẹ là cả thế giới đối với con!

 

Khi con vào trường sư phạm, người ta bảo rằng vậy là con nối nghiệp mẹ. Không, con chỉ theo nghề mẹ mà thôi, nghiệp của con không giống mẹ. Con đường mà con đi hôm nay là con đường mà ngày hôm qua mẹ đã chọn cho con. Thành quả con đạt được được hôm nay là nhờ có mẹ. Nó là hoa trái, nhưng không có gốc rễ, thân, cành mà hôm qua mẹ chăm bón thì lấy đâu ra hoa trái ngọt lành? Mẹ không chỉ là mẹ, mẹ còn là người thầy đầu tiên, người thầy lớn nhất và suốt đời của con.

 

Cuộc sống không có mẹ thật khó khăn. Con cần biết nhường nào vòng tay yêu thương, giọng nói ngọt ngào của mẹ, ước ao lại được sà vào lòng mẹ, được ôm ấp đôi bàn tay, và ngửi lấy mùi hương thân quen rất đỗi dịu dàng của mẹ. 

 

                                     Lê Thị Minh Huyền

                                      (Nguồn Dân trí)

 

Tác phẩm VÕ VĂN LUYẾN trên trang DŨNG LẠC : HƯƠNG SẮC MÙA XUÂN

Báo chí Trackbacks (0) góp ý (1)   

 

Gọi Nắng Vào Tim alt

HƯƠNG SẮC MÙA XUÂN

Mùa xuân, mùa tình yêu. Tất cả trở nên mầu nhiệm biến ảo lạ lùng. Có tiếng chim hót ở trong lồng ngực. Có nét Đào đậu giữa môi ngoan. Có nét Mai màu áo dịu dàng. Người và hoa, xuân sắc chảy tràn đường quê, ngõ phố. Vũ điệu thiên nhiên bất tử ấy tự bao giờ dệt gấm thêu hoa. Cứ như tinh anh kết tụ nên mầm, nên nụ. Đi giữa đường xuân, đi giữa dựng xây. Đây đó mọc lên những căn nhà khang trang, xinh đẹp. Rất đỗi diệu kì mà cũng lắm gian nan. Quên đi bận rộn, lòng bình tâm lắng lại đôi chút, ta sẽ nghe từ những tổ ấm ríu ran hạnh phúc.

Mùa xuân, mùa giao cảm tuyệt vời giữa con người với tạo vật. Ruộng đồng chật ních sức sống của cây lúa. Dân trí khai thông, khuyến học rộng mở, tiềm năng rừng văn hoá đâm chồi nẩy lộc mới. Chân tài bung nở, chân tâm đủ đầy. Lòng vàng dạ ngọc những người mẹ Việt Nam anh hùng không quên ghi tạc. Những ai xa lắc, “ly hương bất ly tổ” - một nén tâm hương cúi đầu tạ lỗi quê nhà. Đẹp lắm và cảm động lắm!

Dòng sông ánh sáng đã đẩy lùi vĩnh viễn cảnh tượng “tối lửa tắt đèn”, những phương tiện của thời đại hậu công nghiệp không còn nằm trong giấc mơ cổ tích.

Hoa và cây cảnh vào từng căn nhà, dù cao dù thấp dù lớn dù bé, những Huệ Cúc Mai Đào Lan nhiều hơn. Chỉ một điều ấy thôi cũng đủ thơm tho tới cõi tâm linh.

Ngập trong cảm xúc, tôi có cái trạng thái “bị chập” những ý nghĩ với nhau. Bởi cơ man hình ảnh cùng chợt đến, chen lấn. Chúng như sợ mình bị tiêu biến đi, không được nhắc đến. Anh bạn tôi, không phải là người lạc quan nhưng đã thú nhận: vẻ đẹp là cái vốn có của cuộc đời. Không cần tô vẽ gì thêm và đừng nhìn bằng đôi mắt thiếu tin cậy. Phải biết tạ ơn những gì đã cho ta hương vị cuộc đời.

Mùa xuân không đốt pháo. Đâu phải làm nhạt thanh âm màu sắc mà làm giảm nỗi lo, nỗi buồn. Xoá bỏ một thói quen phản văn minh âu cũng đừng nên nuối tiếc làm gì. Quê hương thời hoá học làm vắng “tiếng ếch bên tai” đang hối thúc những nhà nông học tìm tới những giải pháp khả thi trả lại môi sinh, môi trường “tự nhiên nhi nhiên” vốn có. Từ trong sâu thẳm, xuân không mùa là ở chỗ đấy.

Mùa xuân cũng không của riêng ai. Dầu vậy, chúng ta vẫn muốn ví mùa xuân thanh tân dịu dàng như thiếu nữ - những thiên thần giáng thế, làm đẹp thế giới. Bạn đã, đang và sẽ nghĩ gì, làm gì để mãi được xuân sắc.

Em mãi là hai mươi tuổi

Ta mãi là mùa xanh xưa

             (Quang Dũng)

Hạnh phúc nào hơn gia đình của mỗi chúng ta ủ ấm tình yêu nồng đượm, xanh tươi bốn mùa. Vâng, tất cả mơ ước, hy vọng và tin yêu, đừng nghĩ đến điều gì là không thể, phải không?
 

Võ Văn Luyến

Tóc mai xuống phố - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Tóc mai xuống phố

                       “Tóc mai sợi vắn sợi dài

                                      (Ca dao)

 alt

Chừng như mùa xuân rất gần

Gần như thơ dại, gần như ngày chớm

Gần như huy hoàng, gần như tuổi bướm

Vẽ đường bay chập chờn

Gió hát màu mạ non

Cánh đồng cong tầm lá vẫy

Mắt ướt loang sương

Chân mày trầm ngãi

Em xa


Cò trắng ngẩn ngơ áo nõn hai tà

Váng phèn gót mưa nhớ vừa thất bát

Trúc xinh một mình ca dao bay mất

Cau ngõ đứng chờ

Tóc mai xuống phố!

                                29/11/2011

                           Võ Văn Luyến

Nhớ Rembrandt - thơ Võ Văn Luyến

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Nhớ Rembrandt

 alt 

   Chân dung Rembrandt


Ông tạc hình hài thiếu nữ

Thế gian thèm những lá bùa mê

Tôi cất vó sông hồ Đồng Tử

Tìm vận may mắt lưới thấy ông về

 

                       VVL

                  (thơ cũ - 1995)

alt

Tranh Rembrandt

THƠ TRẠI SÁNG TÁC VĂN HỌC GIO LINH, ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN

Nghiên cứu- Phê bình Trackbacks (0) Thêm góp ý   

THƠ TRẠI SÁNG TÁC VĂN HỌC GIO LINH,

 ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN

                                (Trích tổng kết phần thơ)

 alt

 Ảnh tư liệu

So với các trại viết trước, số lượng và chất lượng thơ lần này vượt trội. Có hơn 100 bài của 34 tác giả tham gia, một con số kỷ lục thể hiện sự hưởng ứng nhiệt tình, tích cực và đầy đam mê, trách nhiệm của đội ngũ văn nghệ sĩ trước cuộc sống. Điều đáng nói là, thơ các tác giả trại viết một mặt phản ánh bề rộng lẫn chiều sâu về mặt đề tài, chủ đề; thể hiện sự khám phá, phát hiện và đào sâu những vỉa tầng tư tưởng, tình cảm cảm xúc; những giá trị nhân văn hằng cửu và tươi mới. Mặt khác, cũng không ít tác giả có khuynh hướng cách tân theo lối riêng, tạo nghĩa ngôn từ và tứ mới cho mỗi bài thơ.

Trong chiến tranh, mảnh đất Gio Linh là nơi đối đầu đọ sức quyết liệt giữa đại nghĩa với hung tàn, giữa chí nhân với cường bạo; là nơi ý chí, khí phách, phẩm giá con người đặt lên bàn cân thử thách. Nhưng chính mảnh đất này là “Nơi nuôi sống hồn thiêng/ Những người con tuấn kiệt” (HH). Sau hơn ba thập niên, cây hòa bình đã đơm hoa kết trái, không thể phủ nhận một sự thật,“Cuộc chiến tranh vừa được ghi nhớ vĩnh hằng, vừa bị quên lãng từng ngày”(Bảo Ninh) nên những gì đặt ra tại trại viết Gio Linh có ý nghĩa “ôn cố” để tự hào, bảo chứng và vinh danh thành quả vĩ đại trả giá bằng máu xương, tạc nên tượng đài tình yêu bất tử.

Dễ thấy, qua cảm nhận và suy tưởng, các tác giả thơ cắm sâu vào mảnh đất giàu truyền thống lịch sử - văn hóa hồi quy trong giòng sống cuộn chảy và đổi mới, phát triển. Trên mảnh đất một thời lửa đạn, giờ mới thực sự xanh nguyên một sắc quê nhà. “Dọc miền ký ức”, nhà thơ nhận ra cuộc sống huyền nhiệm như trong cổ tích:

Chim gù vọng cõi

Xa xăm

Thoắt thôi

Đã bốn mươi năm yên bình

Đất đau thương trả

Nghĩa tình

Máu hồng hóa nhựa trắng tinh

Dâng đời

          (Dọc miền ký ức – DTH)

Làng quê vốn hằn in trong mắt bao đời cảnh bùn lầy nước đọng, cảnh lam lũ “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” đã hồng tươi dáng phố, thỏa lòng khao khát nghìn năm. Hẳn nhiên, bức tranh quê mang vẻ đẹp ảo hình, thức dậy yêu thương nồng ấm, chứa chan ý vị cuộc đời:

Mọc lên từ cánh đồng khổ đau, sinh nở

Từ bờ sương non, con bê vàng mút cỏ

Từ hạt thóc nắng mưa, ấp ủ phù sa

               (Quấn quýt đời em – HQP)

Hình ảnh “con bê vàng mút cỏ” (mút chứ không phải ăn) mang sắc thái nhân hóa giúp chúng ta liên tưởng đến tâm lý, hành động của trẻ thơ hồn nhiên, vừa gián tiếp nói lên thái độ trân trọng giá trị thụ hưởng từ cuộc sống đem lại.

Gần gũi, thân thuộc nằm lòng với bao người, nhưng với người thơ, hình ảnh làng quê được cảm nhận bằng tất cả các giác quan:

Vịn hẹn hò ta về thăm quê bạn

Nghe leo pheo ngọn gió cỡn đồng làng

Đường rạ rơm ngậy thơm hương cổ tích

Dưới mành khăn lúng liếng mắt ai cười

                (Chiều Gio Mỹ - MTT)

“Vịn hẹn hò”, “nghe leo pheo/ ngọn gió/ cỡn”, “rạ rơm ngậy/ thơm”, “mành khăn” (khác với chiếc/ mảnh khăn) là những kiến tạo từ từ việc cài đặt tuyến tính ngôn ngữ.

Hay như khổ thơ dưới đây trong bài thơ “Gặp bạn ở Trung Sơn”, cái mới không phải ở nội dung. Nội dung hiện hữu như lẽ thường. Mà mới ở chỗ, tác giả biết vận dụng khuôn hình nhịp điệu của đồng giao để đưa vào cấu trúc thơ hiện đại tạo phổ âm nhịp nhàng, đẩy sóng cảm xúc sang bờ nội cảm:

Chiêm bái đồi quê/ đường pha bụi đỏ

Bến Tắt ngửa mặt/ nắng khát bờ sông

Bến Lội ngang lưng/ cà phê nhỏ giọt

Chờ người không hẹn/ gợi nhớ mênh mong

                             (XL)

 

Thời gian không tuổi. Tuổi của thời gian đếm được khi người ta biết đóng dấu lên cuộc đời, lên hưng vong nối tiếp những thời đại, lên phận số chìm nổi để thức nhận, quán chiếu từ những vấn đề quan tâm muôn thuở. Chẳng hạn như chân lý, hạnh phúc, tình yêu, sống chết...Đấy là chuyện không phải bàn một khi trái tim muốn nói điều khác. Giữa yêu thương vẫn nhớ thương. Nhớ thương những yêu thương cũ ngỡ tưởng đã bị bụi bặm đường đời vùi lấp bởi “chuốc nẻo già nưa” nhưng không, không ai khước từ chính mình; dù đó là mật đắng, mật đắng của hạnh phúc.

              Thời gian chuốc nẻo già nua

Trong quê con vẫn ngày mùa nhớ thương

                             (Lòng quê – NVC)

Cây đa, giếng nước, sân đình. Nơi cất giấu, neo giữ kỷ niệm thời thơ dại sáng trong, thời mộng mơ tình tự. Có lẽ trong đó, giếng quê đóng dấu đậm nét vào tâm khảm và lay thức nỗi niềm nhiều hơn cả. Câu chuyện giếng muôn năm cũ tưởng không có gì để nói lại cho ta một chiêm nghiệm cuộc đời và linh nghiệm thi ca:

Cha tôi bảo:

Những lúc nguy nan lấm bụi đường lạc bước

Hãy tìm về mắt giếng mẹ gương soi

Con sẽ thấy nhân gian mất, được

Không gì buồn hơn giếng – tuổi – thơ - rơi

                                          (Giếng quê – VVL)

Có thể thấy điểm nhấn đề tài tập trung trong thơ trại viết là những địa danh, con người có tên, không có tên gắn với cõi tâm linh, với sự tích anh hùng, chiến công vang dội, tỏa sáng ý nghĩa nhân văn. Một Nghĩa trang Trường Sơn “Trầm mặc và thiêng liêng/Bao la mà sâu thẳm” (NVD), nơi “Eo núi nên hồ đời cây vắt sữa/Cội Bồ Đề tỏa bóng Trường Sơn” (PVQ), nơi “Vạn chiếc lá đều mang hình trái tim/Như khát vọng trường sinh bất diệt” (VTÂ). Một Hiền Lương mang vết chém lưỡi gươm thù làm “bao nhiêu máu chảy nghẹn dòng”. Một Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cửa Việt, v.v...đi vào tâm thức, đi vào lịch sử.

Chiến tranh đã xa rồi nhưng còn đó nỗi ám ảnh “giấc mơ lưới nhện” dồn tụ đau thương, day dứt lòng người: “Trên mắt lưới/Có ống chân tật nguyền của con chị vắt lên/Và những tròng người đeo lủng lẳng” (CH), còn đó nỗi hờn căm của người “Mẹ bưng đầu con về/ Đôi mắt rực lửa hận/Sáng tỏ cả miền quê” (PĐQ) đánh thức lương tâm, lương tri loài người.

Cuộc sống không dừng lại nhưng không thể không nhìn lại để chiêm bái, tưởng vọng; để trân trọng, yêu quý những gì lưu dấu đến hôm nay và mai sau.

                                               *

Trại viết khép lại, thiết nghĩ khó đạt được sự cầu toàn. Nhưng phải nói đây là một trại viết gặt hái nhiều thành công về cả văn xuôi (chủ yếu là ký, truyện ngắn) và thơ. Vận dụng lợi thế của thể tài và vốn sống vốn tri thức, các tác giả đã phát huy nội năng sáng tạo, chắt lọc thông tin, chưng cất cảm xúc và tìm tới những phương thức, hình thức biểu hiện có cá tính và phong cách. Tuy nhiên, còn không ít tác giả chưa cưỡng được quán tính sáng tạo rập khuôn, đơn giản một thời,....

Bất cứ việc gì, nhiều hay ít đều có cả thành công lẫn hạn chế. Nhưng phải khẳng định điều này, Văn học trại viết Gio Linh không thiếu những tác phẩm hay. Điều đó đáng được khích lệ, tin tưởng và hy vọng về sự trưởng thành của đội ngũ sáng tác văn học tỉnh nhà.

Bế mạc Trại sáng tác Văn học Gio Linh 2011

Album ảnh Trackbacks (0) góp ý (2)   

Bế mạc Trại sáng tác Văn học Gio Linh 2011

Ngày 26/11/2011, tại nhà hàng Ký Ức thị trấn Gio Linh, Huyện Ủy – UBND huyện Gio Linh & Hội VHNT tỉnh - đồng tổ chức Lễ Bế mạc trại sáng tác Văn học Gio Linh. Đến dự có đầy đủ Lãnh đạo Huyện, TV Hội VHNT, đại diện các cơ quan ban ngành trong huyện; các cơ quan thông tấn báo chí, truyền hình trên địa bàn và khu vực; đặc biệt có gần 60 hội viên Phân hội Văn học về dự bế mạc trại. Nhân chủ có mấy tấm hình chụp xin được đưa lên bà con xa gần coi cho vui.

alt

Toàn cảnh

alt

VVL với Chủ tịch UBDN Huyện Gio Linh Nguyễn Huy Hùng

alt

Với Bí thư Huyện ủy Phan Văn Phụng

alt

Nhà thơ Lê Văn Hoan – Nhà văn Nguyễn Trung Hữu

alt

Nhà thơ Nguyễn Văn Dùng (bên phải) – Nhà thơ Hoài Quang Phương

alt

Nhà thơ Hoàng Tấn Trung bên PCT Huyện

alt

   ‘Làm cảnh”

alt

”Nhức răng”

alt

Ngắm lại nhé!

alt

Những nhà văn/nhà thơ/NS (từ trái sang): Phan Bảo Hòa –

Đào Tâm Thanh – Hà Lan – Văn Chức – Trần Đình Thành – Thúy Sâm

 

Mẹ cha - thơ VVL

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   

Cha

 alt

Hái mây làm đóa vô thường

Cha khâu áo gió thiên đường trn gian

 

Mẹ

 alt

Mẹ ru câu hát nẩy mầm

Ngày xanh độ lượng tay cầm đức tin

 

                                VVL

 

Ảnh chụp trông như tranh

Tài nguyên Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Ảnh chụp trông như tranh 

 

- Sử dụng một phong cách được gọi là pictorialism (ảnh chụp mang phong cách hội họa), nghệ sĩ Don Honh-Oai đã sáng tạo ra một loạt bức ảnh trông giống như tranh thủy mặc truyền thống của Trung Quốc.

 alt

Một số tác phẩm tuyệt đẹp của Don Honh-Oai - Ảnh: Odditycentral

 alt

alt

alt

 

 

Mỗi tấm ảnh của ông là sự kết hợp của nhiều âm bản khác nhau, phóng lên cùng một tấm giấy ảnh, tạo ra những tác phẩm không thể tìm thấy ngoài đời thật. Các cảnh quan đơn sắc ấn tượng trong ảnh của Don Honh-Oai được tạo ra bằng cách sử dụng cọ vẽ đơn giản và mực in, kết hợp những hình thức nghệ thuật khác nhau (thơ, thư pháp và hội họa).

Để cho giống với phong cách truyền thống Trung Quốc, Don Honh-Oai cũng sử dụng thư pháp và con dấu trên các bức ảnh của mình.

 alt

alt

alt

alt

alt

alt

 

 

 

 

Don Honh-Oai qua đời vào năm 2004, ở tuổi 75, tại San Francisco, để lại một khối lượng đáng kinh ngạc các tác phẩm theo phong cách pictorialism. Các tác phẩm này đã trở nên rất phổ biến vì nó hoàn toàn chinh phục thế giới nghệ thuật.

                                                     (Nhận qua mail của Họa sĩ Võ Xuân Huy)

 

Em về thăm tuổi - thơ Trang Phúc

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Em về thăm tuổi

 alt

                                            Chân dung Trang Phúc

Một đàn mây trắng

Bay ngang lưng trời

Dòng sông im lặng

Ngoan hiền trôi xuôi

 

Tuổi thơ - nụ cười

Trong veo như nắng

Trang vở hôm nào

Tươi màu mực tím

 

Tháng năm là bạn

Hồn nhiên là nhà

Em về thăm tuổi

Thấy hồng phù sa


      22/11/2011

Võ Dương Trang Phúc

            (Lớp 8)

Nhật ảnh 21/11/2011: YÊU THƯƠNG VỀ BÊN CHỊ

Album ảnh Trackbacks (0) góp ý (2)   

Nhật ảnh 21/11/2011:

YÊU THƯƠNG VỀ BÊN CHỊ

alt

alt

                         Chị trước ngày mổ

alt

        Hai anh và cháu (bên phải)

alt

Anh Võ Văn Hoa bên em gái sau mổ

alt

Chị - thơ Võ Văn Luyến

Thơ Trackbacks (0) góp ý (4)   

Thuở tuổi trăng tròn, chị má đỏ môi hồng và nhà tôi sáng tươi hoa đèn mỗi tối. Cuộc sống gian lao, buồn vui gập ghềnh nhưng hạnh phúc đời chị cập bến. Mấy hôm nay, bận nhưng em sẽ gác việc về bên chị trước giờ mổ. Mong sao chị sẽ chóng qua cơn đau, niềm vui mai hồng một đóa rạng rỡ nét cười.

 alt

         Chị và cháu Diễm Hạnh

 

Chị

Chị tôi quên mình vào chợ

Hàng hoa hương sắc thơm nồng

Ký ức một thời con gái

Vẹt mòn mắt thẳm người trông


Cập kê đến tuổi lấy chồng

Chị lên thuyền về phố huyện

Để lại cái cười tròn trăng

Một bóng trời trồng trên bến

Thời gian tôi làm người lớn

Cảnh cũ, người xưa không còn

Thương chị của tiền đầy chật

Mắt sao xa vời mênh mông.

              Võ Văn Luyến

         (Rút trong tập "Trầm hương của gió")

 

ẢNH NGÀY HỘI 20/11

Album ảnh Trackbacks (0) Thêm góp ý   

NGÀY HỘI 20 - 11

alt

NGƯT - TS LÊ THỊ XUÂN LIÊN (HIỆU TRƯỞNG) VÀ ĐẠI BIỂU

alt

                  VVL - NGUYỄN ANH SƠN (GV. CNTT)

alt

                                      "BÍ THƯ"

alt

                  SINH VIÊN

alt

alt

               VĂN NGHỆ (SV LÀO)

alt

                       SV VIỆT

alt

                     BÊN HIỆU PHÓ 

 

 

alt

          alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

               

P/S Ảnh: KỶ NIỆM VỚI CHUYÊN GIA PHẦN LAN

Album ảnh Trackbacks (0) Thêm góp ý   

P/S Ảnh: KỶ NIỆM VỚI CHUYÊN GIA PHẦN LAN

VỀ ĐỢT  TẬP HUẤN “NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO

VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC” Ở TRƯỜNG CĐSP QUẢNG TRỊ

(Do Trường Đại học Khoa học ứng dụng JAMK &

Trường ĐH Khoa học ứng dụng  HAMK thực hiện)

 alt

                            Tauno – Maritas – Kajaas - VVL

alt

                   Tauno – Maritas – Kajaas – Irmeli - Lenna

          (Đang hát bài truyền thống về NGÀY ĐÀN ÔNG PHẦN LAN - 11/11)

alt

alt
altalt

alt                     Tặng quà trước lúc chia tay


 

Qua Đạo Đầu nhớ Thầy Phan Phụng Thạch - Võ Văn Hoa

Báo chí Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Qua Đạo Đầu

nhớ thầy Phan Phụng Thạch

 alt

     Chân dung Nhà thơ Võ Văn Hoa

Những năm đầu thập niên 1970, tôi ra học Trung học Đệ nhị cấp Nguyễn Hoàng (Quảng Trị). Mới đó mà đã 35 năm. 35 năm chưa phải là dài nhưng với tôi đã có những kỷ niệm sâu sắc về mái trường, về Thầy Cô, về bạn bè.

Là dân ban C (ban văn chương) nên tôi thường đến thư viện nhà trường. Người thầy “quản thư” không dạy tôi một giờ nào nhưng tôi “tâm phục khẩu phục”. Đó là nhà giáo – nhà thơ Phan Phụng Thạch, người mà tôi thường gặp tác giả trên các tạp chí Bách khoa, Văn..., những tờ báo “vang bóng một thời”.

Một ông thầy dong dỏng cao, thường đeo kính trắng, ít nói, nhưng đọc thơ thầy mới hay cái TÂM của người luôn hướng về quê hương, bạn bè, đặc biệt là học trò của mình.

Tập thơ “Lưu bút mùa hạ” của Thầy là một minh chứng:

“Rồi chiều nay giã từ từng nỗi chết

Ta Trở về đứng giữa những tang thương

Quê hương đó những chiếc cầu đã gãy

Còn mong chi nối lại những con đường.

Còn ai đó những người thân yêu cũ

Thắp giùm ta một chút nắng trong hồn

Em còn không hay muôn đời đã ngủ

Ôi một thời hoa bướm Hạnh Hoa thôn...”

                                              (Khi ta về Quảng Trị)

Quê Thầy ở thôn Đạo Đầu, xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong; một làng quê có truyền thống văn hoá. Giáo sư Phan Văn Dật – tác giả “Bâng khuâng” (thơ tiền chiến) trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài Thanh- Hoài Châm) có đề cập cũng là người cùng làng.

Nhiều lần qua Đạo Đầu, hình ảnh thi sĩ họ Phan này cứ ám ảnh trong tôi hoài! Phải chăng có cùng mẫu số chung về duyên nợ thi ca?

Sau này vào Huế học sư phạm, thì bàng hoàng nghe tin: “Thầy Thạch đã mất vì mắc phải căn bệnh quái ác,” bệnh hoại huyết”. Tôi nhớ không nhầm, trên tạp chí Bách khoa ngày ấy, nhà thơ Chu Vương Miện đã có số tưởng niệm về thầy. Có đăng ảnh, vài dòng tiểu sử và trích đăng một chùm thơ tưởng niệm. Trong đó có bài tặng người bạn thơ Trần Dzạ Lữ:

“Thằng bạn chưa già tóc đã bạc

Bụng đầy Kinh Lễ với Kinh Thư

Chuyện đời hư ảo xin mầy gác

Không lẽ mầy là Ngũ Tử Tư.

Hay mầy muốn là một Nhan Hồi

Thì hãy vì nhau uống mềm môi

Đã biết đời người cơn gió thoảng

Thì mau kẻo rượu sẽ bay hơi...”

Mới đây gặp lại một số bạn bè ở thành phố Hồ Chí Minh về quê, nhắc lại Thầy cũ, ai cũng bồi hồi xúc động và mong muốn có một dịp nào đó cùng hành hương về quê Thầy – quê nhà thơ Phan Phụng Thạch.

Những điều chân thực mà thầy đã nghĩ trong thơ: “... những chiếc cầu đã gãy...” ấy bây giờ đã được nối lại. Cầu Hiền Lương, cầu Thạch Hãn... không chỉ một cầu mà có đến hai cầu, kể cả phục chế nguyên trạng di tích cầu.

Thầy Thạch ơi, trong cõi vô minh, tôi vẫn tin tưởng tâm trạng khắc khoải của nhà thơ sẽ an lòng trước hiện thực cuộc sống sôi động hôm nay khi nước nhà đã thống nhất.

                                      Võ Văn Hoa

                      Phó trưởng phòng Giáo dục - Đào tạo
                        huyện Hải Lăng - tỉnh Quảng Trị

                               Việt Báo (Theo_DanTri)

 

sông mê bến lú - thơ vovanluyen

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

 Sông mê bến lú

 alt

Con sông chở những yêu mê

Ta như bến lú thả thề trôi xuôi

Lấm hương cười khóc. Lở bồi

Cuối cơn dâu bể. Ru lời chênh vênh.

 

                         1995

                    Võ Văn Luyến

Nghề giáo - Phạm Văn Ánh

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) góp ý (2)   

Thạc sĩ Vật lý Phạm Văn Ánh, một GV trẻ của Trường CĐSP Quảng Trị, hiện đang miệt mài “nấu sử xôi kinh” tại Hà Nội theo đề án NCS nước ngoài của Bộ GD & ĐT, đã mail cho tôi bài viết thấm đẫm tâm tình, sự thao thức với NGHỀ GIÁO này. Xin chia sẻ với các đồng nghiệp.

 

 

Nghề giáo

 alt

Ngày 20/11 sắp đến, tôi vừa tròn 4 năm tuổi nghề....

Sau những tháng năm miệt mài đèn sách, là một học sinh chuyên từ cấp hai, không thuộc hàng xuất sắc, nhưng tôi vẫn tự tin là có thể chọn vào một trường Đại học mà mình thích. Không phải theo kiểu “chuột chạy cùng sào”, mà với niềm đam mê, với suy nghĩ của một con mọt sách, với lời động viên của gia đình, tôi chọn nghề giáo.

Nếu tính tuổi đời, tôi sắp tròn ba mươi, một cái tuổi không còn nhỏ. Cách đây tám năm, đã có trò gọi tôi là thầy, nhưng tính tuổi nghề chính thức, tôi chỉ mới có 4 tuổi! Chỉ là một đứa trẻ mầm non trong nghề, có lẽ chính vì thế mà trong tôi luôn đầy ắp những câu hỏi, tại sao, tại sao và làm thế nào?

Một điều dễ thấy là tấm lòng cao cả, đức hy sinh vì nghề của nhiều người thầy. Trên con đường học của tôi, tôi cũng gặp không ít người thầy tận tâm như thế. Ngày tôi mới vào học trường chuyên, là một trong những học sinh vùng nông thôn mới lên, nên có nhiều kiến thức chúng tôi thua thiệt so với bạn bè. Hình ảnh người thầy tận tụy, từng đêm gọi chúng tôi đến, hướng dẫn thêm cho chúng tôi từng bài toán, từng vấn đề một còn mãi in đậm trong tâm trí của tôi... Nhưng ngày nay, cũng không quá khó để nhìn thấy những bất cập và cả tiêu cực trong nghề giáo! Nếu không tin, bạn mở và gõ vào trang google dòng chử: “tiêu cực trong giáo dục”, chỉ trong vòng 0,1 giây, các bạn sẽ thu được con số hàng trăm ngàn kết quả liên quan!

Trong đất nước chúng ta, dù còn nhiều khó khăn và bất cập, nhưng với những nét văn hóa và truyền thống riêng, nghề giáo luôn được coi là nghề cao quý. Và trong xã hội này, giáo dục được xác định là “quốc sách hàng đầu”, tất nhiên, vai trò và vị trí của người thầy là không nhỏ! Nhưng nên chăng, khi xã hội phát triển, kinh tế thị trường mở cửa, thì cũng cần có những cái nhìn tỉnh táo, sòng phẳng hơn về người thầy, về giáo dục, thay vì cứ bám mãi vào những định kiến mặc định. Để mỗi một người thầy, mỗi một cơ sở giáo dục và lớn hơn là cả hệ thống giáo dục biết nhìn lại mình để thay đổi mình trong cái mối quan hệ đa phương chiều này.

Có thể tôi biết, có thể không, nhưng chắc chắn tôi không đủ tầm để thay đổi, thậm chí chỉ là nghĩ đến những điều vĩ mô. Tôi chỉ ngẫm để tìm được đúng hướng đi cho mình, cho cái nghề cao quý mà tôi đang mang, để không phải cúi mặt khi ai đó “Chào thầy”! Tôi vẫn nhớ, lời của một lãnh đạo khi tham gia một buổi sinh hoạt với Chi đoàn GV chúng tôi: “Là cán bộ, giảng viên trẻ các bạn phải biết nghĩ về tương lai, nghĩ những lý tưởng cao đẹp hơn chứ không phải khi nào cũng chỉ biết nghĩ đến cái lợi trước mắt, những bon chen tầm thường của cuộc sống. Có như thế thì các bạn mới đặt mình đúng tầm của mình, mới có thể vượt qua và phát triển!”.  

Vâng, đó cũng là những điều mà tôi đã từng nghĩ khi chọn nghề, càng vững tin hơn khi tôi may mắn được làm người thầy góp phần đào tạo nên những giáo viên cho tương lai. Nhưng rồi càng ngày, thú thực, tôi lại thấy quá khó. Làm sao để nghĩ đến lý tưởng, làm sao dành trọn tâm huyết với nghề, khi cuộc sống của chính mình còn chưa đủ, dù là ở mức trung bình? Đó là tôi còn may mắn khi có được nhiều sự trợ giúp. Nhìn những người đồng nghiệp, nhiều khi phải tất bật ngược xuôi, hợp đồng thêm ở trường này, dạy thêm ở nơi khác,... có nhiều khi còn bỏ cả công việc ở trường chính của mình! Chưa kể đến, những lần tôi được về với vùng sâu, vùng xa, nhìn cái cảnh sống của những giáo viên nơi đây, mới thấy hết cái khó khăn của một nghề được gọi là cao quý! Loại trừ đi những “con sâu làm rầu nồi canh”, còn lại nên trách họ thế nào đây khi tiêu cực, dạy thêm, soạn bài hời hợt, lên lớp thất thường... từ đó mà ra? Bởi họ là những “người thầy” chứ không phải khi nào cũng dùng được cộc lốc mỗi chữ “thầy”!

Khi đứng trên bục giảng, muốn lắm chứ, muốn truyền đạt cho học sinh, sinh viên những kiến thức mà mình có, những phương thức để họ tiếp cận tri thức, cả lòng nhiệt thành với nghề mà họ chọn. Nhưng,...có lần tôi đang dạy, nhìn những vẻ mặt ngơ ngác, những tâm hồn như đang ở ngoài những chùm phượng đang chờ để cháy hết mình, tôi bực: “Các em học hành thế hả, học thế này thì rồi sau này ra trường, các em dạy học sinh thế nào đây?”. Một sinh viên đứng dậy: “thầy cho em nói thật được không ạ, biết có được đi dạy không mà lo thầy ơi! Thầy có khi nào bơi giữa biển khơi không? Nếu nhìn thấy một bến bờ nào đó, một hòn đảo thôi, dù là nhỏ, là xa thì em cam đoan với thầy là chắc chắn ai cũng gắng, cũng bơi. Nhưng bơi mà không biết mình phải bơi đi đâu, đến bến nào thì thầy nói em phải bơi như thế nào?”. Tôi im lặng. Không khó để tôi trả lời, nhưng giá như ai đó trả lời giúp tôi, một câu trả lời đúng với lương tâm, với thực tế đang có! Thì có lẽ tôi đã không phải nhìn lên trời khi trả lời câu đó!...Thực tế, hơn một năm sau, trong một lần tôi lên trung tâm Thương mại Lao Bảo, đang lang thang ngắm vài món hàng thì: “Em chào thầy, thầy lên khi mô rứa?”...“hihi, có mô thầy, em làm đây cũng lâu rồi, lớp em chỉ có hai bạn đi dạy thôi, còn lại là đi làm đủ thứ, có nhiều đứa còn đang ở nhà thầy ơi.”!...

“Lý luận phải gắn liền với thực tiễn sinh động”. Không cần phải bàn cãi câu đó. Nhưng có khi nào chúng ta tự nghĩ lại xem có phải khi nào đứng trên bục giảng, chúng ta đều làm được như thế, hay hơn hết thảy học sinh, sinh viên, chúng ta biết mình không phải khi nào cũng vẽ được tranh theo trường phái ấn tượng mà đem ghép hai mảng màu đó lại với nhau! Sẽ là tốt hơn, dễ chịu hơn nếu gắn chữ “nghề” với chữ “nghiệp”!

Nhân ngày 20 tháng 11 sắp đến, xin kính chúc quý thầy cô sức khỏe, hạnh phúc! Mãi tận tâm tận lực với sự nghiệp trồng người, để tự hào và hân hoan chào đón ngày 20/11 như là ngày tết của riêng mình!

                                                      

                                                                                                             Romance2612

Anh và những bài ca - thơ VVL

Thơ Trackbacks (0) góp ý (4)   

 

Anh và những bài ca

 alt

Sẽ hết một đời anh nghĩ

Dăm câu thơ phú loằng ngoằng

Thẹn với đất sâu im lặng

Còn đâu mơ cõi vĩnh hằng

 

Bao giờ trái tim ngừng đập

Bao giờ máu vọt thanh thiên

Em ơi, lúc nào được hát

Niềm vui anh tựa thằng điên.

 

                   12/01/1995

               (Những ngày đau)

Một tí cái tình - Lê Đàn

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) góp ý (2)   

Anh Lê Đàn thuộc thế hệ trước tôi nhưng gần gũi ở sự chia sẻ và đồng cảm. Mạn phép anh cho nhân chủ được “công bố” với bạn văn email cùng bài viết dưới đây:
Hôm trước, tập san Hương Quê Nhà NHSG do anh chị Phái Mai BT, có mời
LĐ cộng tác 1 bài, gặp lúc Thầy tặng tập thơ Người Câu Bóng Mình, cho
nên, LĐ viết một mạch với cái tựa MỘT TÍ CÁI TÌNH. LĐ đã gởi bài này
cho HQN để góp mặt tình đồng môn cho vui vẻ. Hôm nay LĐ gởi bài này
cho Thầy Luyến đọc cho vui, đây không phải là một sản phẩm báo
chí, giống như bài trước gởi Thầy, mà chỉ là những trang nhật ký ghi
chép từ những suy nghĩ vui vui thoáng hiện trong từng ngày, có thể đó
là tư liệu chân thực nhất để mình có thể rút ra chút xíu chêm vào cho
những bài gọi là sản phẩm báo chí sau này.
Riêng LĐ lúc nào cũng quý mến Thầy. Thân ái!

                                                Lê Đàn

                                      (Email)

alt

   MỘT TÍ CÁI TÌNH

 

          Nhà giáo nhà thơ Võ Văn Luyến vừa tặng tôi tập thơ: “Người câu bóng mình”, nghe qua cái đề sách đã thấy ấn tượng, ai từng đời hết cái câu lại câu bóng mình giữa đời là bể khổ trầm luân này. Ừ phải lắm, người ta nói đời là bể khổ chứ có ai nói đời là bể sướng đâu, người đàn ông lắm lúc bị chìm đắm trôi lăn giữa bể…bia rượu,…ý không phải, chìm đắm giữa bể khổ và phải tự câu mình lên để tự cứu mình trước khi… vợ cứu,…ý không phải…trước khi  trời cứu.

          “Người câu bóng mình giữa bể khổ trầm luân”. Một câu nghe kỳ lạ, nhưng càng suy gẫm càng thấy hay lắm! Hai chữ “trầm luân” nghe rất gần gũi quen thuộc. Chìm đắm là trầm; trôi lăn là luân. Trầm là chìm xuống, chìm sâu trong bể khổ. Khổ ví như là biển. Nếu mình không khéo léo thì sẽ bị chìm xuống đáy bể và không trồi lên được. Cho nên chúng ta phải học cách làm sao đừng để  bị chìm xuống, mà nếu có bị chìm thì phải biết nổi lên trở lại. Người dạy cho mình, người ấy phải tự nổi, người ấy bị chìm thì làm sao có thể giúp mình nổi lên được ? Giống như một giáo sư dạy về « Hạnh Phúc », vị giáo sư đó phải có hạnh phúc, nếu mình không có hạnh phúc thì mình không thể làm thầy dạy nó được, vì mình không có gì để hiến tặng cho người khác hết. Hạnh phúc này là hạnh phúc đạt được do sự tu tập đem lại. Khi nào giải toả được những khổ đau, khó khăn của chính mình, mình có thể mỉm cười, hạnh phúc được thì lúc đó mình biết là mình có thể giúp cho người khác hạnh phúc được.

          Có một cửa biển rất rộng ở bờ biển miền Trung gọi là cửa Thần Phù. Ở đó, nếu những người chèo thuyền không khéo thì thuyền của họ sẽ bị chìm, cho nên mới có câu ca dao rất nổi tiếng là :

          « Lênh đênh qua cửa Thần Phù

          Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm »

          Chữ phù này có nghĩa là nổi, phù vân là mây nổi. Sống giữa cuộc đời này, người khéo tu thì nổi, người vụng tu thì chìm. Ai cũng phải tu hết, không cứ gì người xuất gia hay là người không xuất gia. Đều phải học cái kỷ năng sống và nghệ thuật giao tiếp để không bị trầm luân trong bể khổ. Trong một ngày mình có thể bị chìm nhiều lần. Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiêm đó rồi. Có ngày chúng ta bị chìm hai ba lần, chìm sâu xuống, rất là khổ sở và cố gắng bằng nỗ lực của mình để nổi lên trở lại.

Theo cái cách rất độc đáo của nhà thơ Võ Văn Luyến là câu bóng mình nổi lên. Cái bóng mình chính là cái hồn vía, hồn phách của mình, hay là cái tâm của mình, khi bị trầm luân tức là chìm nghỉm, chìm đắm trôi lăn long lóc, quay tròn không ngừng giữa bể khổ cuộc đời này, phải là bậc thầy mới có đủ tài năng bản lĩnh câu bóng mình lên được, phải không các bạn ?

Chỉ mới lan man cái tên tập thơ « Người câu bóng mình » không thôi mà đã dông dài, nhưng hãy còn sớm lắm, gà vẫn chưa gáy đầu canh, có nghĩa là đang giờ Tý canh khuya, một giờ Tý linh hiển. Thử cầm tập thơ « Người câu bóng mình » lật một trang bất kỳ như là bói Kiều, trang 83, bài VỌNG : “ Trời thả một chiếc lá vàng/ Thế là mặt đất nguyện làm mùa thu/ Em đi từ buổi sương mù/ Chiêm bao tôi gặp lời ru vọng buồn”. Tôi bói quá hay vì đang là mùa thu lá bay mà lật đúng trang có bài thơ tứ tuyệt viết về mùa thu thì hết sức linh nghiệm. Từ xưa đến nay, Ông Trời là to nhất, nếu không to nhất thì ai kêu “Trời ơi!” mà làm gì. Trời kêu đất dạ, Trời mưa đất chịu, trời thả một chiếc lá vàng báo tin là đất phải tuân lệnh chuyển qua mùa thu ngay. Nhưng anh có phải là Trời không, mà đòi chi được nấy? Và em có phải là đất không, tại sao mà bỏ trời “em đi từ buổi sương mù”? Ngày xa xưa anh to như Trời, nhất nam viết hữu, bây giờ mọi sự thay đổi, anh và em bình đẳng rồi, không còn chuyện vũ phu bạo hành nữa đâu, đừng có mà tưởng lầm! Duy nhất chỉ còn trời với đất thì vẫn phong kiến như vậy. Bình luận lung tung một tí cho vui, thực sự bài tứ tuyệt trên của nhà thơ Võ Văn Luyến có sự ví von liên tưởng thật là hay.

          Tôi lại lật một trang bất kỳ khác. Trang 7. có một câu đập vào mắt tôi vì có hai chữ Niết Bàn thiêng liêng của Đạo Phật.: “ Câu kinh lạc mất ở phía niết bàn/ Người gánh đa đoan, chất miền trần thế”. Tôi cau mày phân vân không biết ông bạn nhà thơ của tôi muốn nói gì? Thông thường, giống như một cậu học sinh ham chơi, sách vở đút túi quần, cúp cua vô quán cà phê, quán rượu, Karaoke, quán bi da hay là quán net cho nên sách vở  lạc mất ở đâu đó; câu kinh cũng lạc mất ở đâu đó thôi. Học kiểu này thì thi trượt là cái chắc, làm sao đậu được “Đại Học Niết Bàn”. Chữ nghĩa trả hết cho Thầy, câu kinh cũng lạc mất ở phía âý trả hết cho Thầy luôn. Bây giờ tôi mới hiểu ra nhà thơ Võ Văn Luyến hoàn toàn có lý. Nhạc sĩ Phạm Duy về già cũng có viết: “Mai tôi … về cõi Niết”, Ông chăm chỉ học, nên ông đậu rồi, ông có thể về ĐH Niết Bàn ngay hôm nay luôn, không cần chờ đến mai. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng có lúc lạc mất câu kinh ngồi than thở một mình: “Chúa đã bỏ loài người/ Phật đã bỏ loài người/ Này em xin chớ phụ người…”. Và tôi cũng không vượt ra cái ngoại lệ ấy khi viết: “Nhẹ nhàng khóc với nỗi vui/ Dịu dàng cười với ngậm ngùi nỗi đau/ Khóc cười chưa biết mặt nhau/ Cười vừa tan biến, khóc mau hiện hình/ Khóc oa từ lúc mẹ sinh/ Cười chiều tóc trắng phiêu linh niết bàn”.

          Bói – “Một mình ngồi bói riêng tư/ Chiều đi mất, tối răng chừ khôông hay/ Đường đời muôn nẻo trên tay/ Để tôi lạc mấy hôm rày tìm tôi” (H.T.Phát). Hai quẻ vừa rồi buồn quá, “sự bất quá tam”, quá tam ba bận, tôi cầm tập thơ, nhắm mắt lại, cố lật thêm một lần này nữa thôi. Trang 49, dòng cuối: “Dễ gì đổi lấy tri âm?”.

Cả ba lần bói, không gặp câu nào nói về tài lộc gì cả, lần này là “Tri âm”, cũng hay đấy! Xin nhà thơ Võ Văn Luyến đừng buồn khi có người đem tập sách của mình ra xem bói như là bói Kiều.

Xin cám ơn nhà thơ về hai chữ “Tri âm” mà tôi đang đi tìm kiếm.

Tri âm là gì? Thử lật lại trang Kiều tìm đến câu: “Vui là vui gượng kẻo là/ Ai tri âm đó mặn mà với ai”. Hai chữ tri âm được ghi chú giải thích từ điển tích Bá Nha và Tử Kỳ. Bá Nha thời Xuân Thu, là người giỏi đánh đàn, gặp và chơi thân với Chung Tử Kỳ là người sành nghe đàn. Một hôm Bá Nha đánh đàn, Chung Tử Kỳ ngồi nghe. Khi Bá Nha nghĩ đến chỗ non cao, Chung Tử Kỳ nói: “Thiện tai hồ cổ cầm, nguy nguy hồ nhược Thái Sơn” (Đánh đàn giỏi làm sao, vòi vọi cao như núi Thái). Một lát Bá Nha nghĩ đến chỗ nước chảy, Chung Tử Kỳ lại nói: “Thiện tai hồ cổ cầm, đãng đãng hồ nhược lưu thuỷ” (Đánh đàn sành biết mấy, mênh mông thay như nước chảy). Chung Tử Kỳ chết, Bá Nha đập đàn không gảy nữa vì cho rằng người đời không còn ai hiểu tiếng đàn của mình. Tiếng đàn hay của người tri kỷ có bạn tri âm thưởng thức. Tích xưa như vậy là để nói lên rằng rất khó để có được một người bạn tri âm.

           Trần Tiến trong “Ngẫu hứng phố”, ông đã viết: “Hà Nội cái gì cũng rẻ, chỉ có đắt nhất bạn bè thôi/… Hà Nội cái gì cũng rẻ/ Chỉ có đắt nhất tình người thôi”. Thằng bạn thơ của tôi hắn cũng bi quan nhại theo cái giọng điệu ấy: “Đông Hà chỉ rẻ cái ăn/ Còn tình bè bạn phải trăn trở nhiều/ Bạn nhiều vẫn thấy cô liêu/ Vì không ai dám chia điều đắng cay/ May còn vài đứa tao mày/ Mở lòng biếu giọt bi ai không tiền”.

Ông Trần Tiến muốn đưa ra một thông điệp với mọi người rằng tình bạn và tình người đều rất quý. Để tìm được người bạn tri âm tri kỷ theo tiêu chuẩn của Ngài Du Bá Nha thì rất là khó, cứ khắt khe ích kỷ như người xưa, cũng có ngày héo khô vì cô độc. Còn tôi và những người bạn chung quanh tôi thì sao? Có người bao nhiêu năm biệt vô âm tín, tưởng như xa mặt cách lòng, nhưng khi tìm gặp được nhau thì tình bạn lại đầy tràn như xưa. Trong tình bạn có đôi khi chỉ vì những mâu thuẩn nhỏ sinh ra giận hờn hoặc có thể cãi vả nhau, nhưng rồi vẫn tha thứ bỏ chín làm mười để thương nhau, cho đến hôm nay tình bạn vẫn còn gần gũi thân thiện là điều đáng mừng.

Bây giờ thiên hạ đua chen nhau làm giàu vật chất, có đôi lúc say cái đồng  tiền, mà bỏ quên mất cái tình bạn rất quý, không còn thời gian dành cho bạn dù chỉ một tin nhắn thăm hỏi: “Bạn có khoẻ không?”. Tính vô cảm đến với mình hồi nào không hay biết, xem nhẹ làm giàu tình cảm, trong đó có tình người, tình bạn, đó là điều Trần Tiến và rất nhiều người trăn trở. May sao, chúng ta còn kịp thời ý thức được và rất vui vì chung quanh chúng ta vẫn còn rất nhiều người bạn tốt, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ buồn vui với mình. Cái tình bạn, tình người quý lắm, “Dễ gì đổi lấy tri âm?”

Anh bạn chí cốt của tôi nói rằng hãy mở lòng ra với mọi người: “Một bồ cái lý, không bằng một tí cái tình”. Nhà thơ Võ Văn Luyến và những người bạn đang sống chung quanh tôi, hãy cùng tôi nâng ly chúc mừng một câu nói rất hay của người xưa mà anh bạn tôi vừa mới nhắc.

“Một tí cái tình” chính là cái “Ai tri âm đó mặn mà với ai?” của cụ Nguyễn Du, hay là cái “Dễ gì đổi lấy Tri âm?” của nhà thơ nhà giáo Võ Văn Luyến.

                                      Lê Đàn

                             60 Chu Mạnh Trinh

                             Tp Đông Hà-Quảng Trị

 

 

 

Nhớ lại một thời - Phùng Tấn Đông

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) góp ý (1)   

Nhớ lại một thời...
 

 alt

Nhà thơ Phùng Tấn Đông

Mới đó mà đã gần ba mươi năm trôi qua, kể từ khi những văn nghệ sỹ trẻ xứ Huế cùng hội ngộ với nhau trong Câu lạc bộ Văn học Trẻ Huế những năm tám mươi thế kỷ hai mươi.

 

Mới đó mà đã có đến ba thế hệ viết trẻ khởi đi từ Huế, góp phần làm nên vóc dáng văn học vùng Huế và miền Trung hùng hậu. Trong số đó, đến bây giờ nhiều người đã mệt nhoài buông bút, nhiều tác giả vẫn đang miệt mài cày xới trên cánh đồng văn, nhưng ngọn lửa ngày ấy thì vẫn đang cháy trong tim, như ánh lửa chờ thắp lại lúc nối tay ngày về.

Ngọn lửa ấy đã thao thiết cháy cùng Tạp chí Sông Hương bao tháng năm qua. Nó cần được nhắc lại, nó cần được thắp lại ngọn nến để những yêu dấu tìm về. Và vì lẽ đó, chuyên đề dành cho Viết trẻ Huế được giới thiệu đến bạn đọc trong số báo này.

Dĩ nhiên, cuộc chơi còn nhắc đến bạn bè đã đến và đi, chỉ là ngẩu nhiên bởi sự có mặt của bản thảo, không hề chọn lựa: Lê Vĩnh Tài qua ánh nhìn Khánh Phưong, Vi Thùy Linh qua Trần Thiện Khanh, Tuệ Nguyên qua Lê Minh Phong.
                                                            Xin giới thiệu cùng bạn đọc!
                                                                    SÔNG HƯƠNG



PHÙNG TẤN ĐÔNG


Nhớ lại một thời...


“Như có thể chết đi, bỗng nhiên; nhưng không bao giờ ngờ vực
điều chúng ta tồn tại với thơ ca”
                    (Phạm Tấn Hầu - Thơ để ngỏ)



Cũng đã gần 30 năm... Những tháng năm, những khuôn mặt cứ lùi xa trong trí tưởng. Anh em bạn bè ngày ấy có người thi thoảng về Huế gặp nhau, có người trôi dạt mãi đẩu đâu góc bể chân trời, có người đã không còn trên cõi thế. Tưởng có thể quên đi nhưng chỉ cần một nhắc nhớ, cánh cửa ký ức mở tung, hiển hiện về bao nhiêu là khuôn mặt, bao nhiêu là cảm xúc, nghĩ ngợi, cơ man bao chuyện vui buồn.

Trong lời giới thiệu cho tập thơ “Thơ trẻ Huế” của 15 tác giả do Thành đoàn Huế xuất bản tháng 9 năm 1984, anh Nguyễn Khoa Điềm viết: “Tại ngôi nhà 22 Trương Định, cạnh cầu Trường Tiền, có một nhóm anh chị em làm thơ trẻ thường tới lui sinh hoạt. Ngôi nhà này ngày trước là trụ sở Tổng hội sinh viên Huế, nơi phát xuất các cuộc đấu tranh của tuổi trẻ học đường dưới thời Mỹ - tay sai, nay là cơ sở hoạt động của Đoàn thanh niên Cộng sản thành phố...” và “...chúng ta cũng đang phấn đấu hình thành thế hệ thứ tư những người cầm bút...”.

Những năm ấy, tôi rời bộ đội về học Đại học Sư phạm. Các thầy cô ở khoa Ngữ văn sau cuộc thi văn học của khoa đã trao giải và gửi đăng các tác phẩm của tôi trên tạp chí Sông Hương - cả thơ và truyện ngắn nên được mời đến sinh hoạt tại câu lạc bộ văn học Thành đoàn và “nghiễm nhiên” nằm trong “thế hệ thứ tư” ấy của Huế. Tôi còn nhớ, những bạn bè là sinh viên, công chức lúc ấy ai nấy đều háo hức trong việc sáng tác, sáng tạo là phải mới, phải làm mới văn chương. Mà đâu chỉ anh em, những cán bộ Đoàn và anh em “phong trào” sinh viên học sinh trước 1975 cũng háo hức không kém. Bên Đoàn có Lê Phùng, chị Thọ, chị Đấu, chị Dung, anh Diệu, Khắc Công, Trần Văn Tiến..., anh em “phong trào” có Phạm Tấn Hầu, Thái Ngọc San, Võ Quê, Văn Hữu Tứ... Khoa Văn Sư phạm có thầy Trần Thức, Hoàng Dũng, cô Trần Thùy Mai... Khoa Văn Tổng hợp có Phạm Phú Phong... Thành viên của câu lạc bộ rất “hùng hậu” như trường Tổng hợp có Lê Viết Tường, Hồ Thế Hà, Trần Thị Huyền Trang, Phạm Đương, Trần Bá Đại Dương, Trần Thị Kim Oanh... Sư phạm có Trần Hoàng Phố (thầy Bửu Nam), Phùng Tấn Đông, Mai Nguyên, Thu Hồng, Võ Văn Luyến, Lê Công Doanh, Bạch Lê Quang... Các tác giả là viên chức, công chức, ngành nghề tự do có Trần Thị Hiền, Đỗ Văn Khoái..., sau này có Nguyễn Quang Lập từ bộ đội về làm ở Sở Văn hoá Bình Trị Thiên tham gia sinh hoạt.

Những năm tháng ấy có thể nói, gạt hết những góc tối trong mỗi đời riêng - cái mà người đời gọi là thân phận - thì đó là những ngày đầy ắp khát vọng, những ngày “sống trong hạnh phúc” bởi tất cả các thành viên cùng hướng đến một mục đích là viết những tác phẩm hay, có ích, viết và làm mới văn chương, những tác phẩm không lặp lại, không bước giẫm lên dấu vết của những người đi trước. Tôi còn nhớ trong lời giới thiệu trên Sông Hương số 15, tháng 9 và 10 năm 1985, Tòa soạn viết: “Thế nào là tác giả trẻ, cây bút trẻ, nghệ sĩ trẻ? Một cách gọi như vậy không phải không gây ra những tranh cãi ngay ở nước ta và nhiều nước trên thế giới. Bởi vì trong sáng tạo văn nghệ, tuổi không phải là vấn đề tiên quyết. Tuy nhiên trong thực tế nghề nghiệp - nếu coi hoạt động văn nghệ như một nghề nghiệp - thì vẫn có một lớp người “học nghề” để “thành nghề” và tiếp tục sự nghiệp của người đi trước. Chúng tôi đề nghị hãy gọi đội ngũ đó là những người kế tục sự nghiệp văn nghệ... Họ thuộc về tương lai của nền văn nghệ chúng ta”.

Thực sự với chúng tôi, những sinh viên còn ngồi trên ghế giảng đường thì việc “học nghề” viết là lẽ đương nhiên bởi dẫu sao nghề thầy giáo dạy văn đã gắn với nghiệp văn chương, thế nhưng có một môi trường để trao đổi, học hỏi lẫn nhau bằng các sáng tác mới và mạnh dạn trao đổi, phẩm bình với tư cách anh em bè bạn theo kiểu “nếu không phải là bạn tôi thì còn ai dám nói sự thật về tôi với tôi” của một triết gia nào đó tôi quên tên thì hẳn nhiên là quá lý tưởng... Làm sao không nhớ những đêm thơ ở Đại học Sư phạm, Đại học Tổng hợp, ở Trụ sở Hội Văn nghệ, ở 22 Trương Định... Những giọng thơ hào sảng, đầy tính chất “quảng trường” kiểu Mayakovsky, những ca khúc phổ thơ thời phong trào của Trần Quang Long qua giọng hát của anh Lượng, thơ Võ Quê qua giọng hát của Lê Phùng... Một Lê Viết Tường tràn đầy nhiệt huyết với bài thơ “Khúc hát đường chân trời”, một Trần Thị Huyền Trang nữ tính và triết lý với “Logíc của rubic”, một Trần Bá Đại Dương đầy ắp cảm xúc của lý tính với “Ghi nhận ở cầu Trường Tiền”... Làm sao không nhớ những buổi giới thiệu tác phẩm mới, hội thảo về thơ, truyện ngắn như thầy Bửu Ý giới thiệu thơ J. Prèvert, giới thiệu truyện ngắn phương Tây hiện đại - số đặc biệt của tờ Le Monde số 6.1984, hội thảo về thơ “Trần Vàng Sao - người đàn ông 43 tuổi...”, hội thảo về nhạc vàng (Nguyễn Quang Lập đứng lên làm ca sĩ hát minh hoạ nhạc viết theo đơn đặt hàng về kế hoạch hóa gia đình), mời nhà văn Nguyễn Minh Châu nói chuyện về sáng tác... Những năm tháng ấy, câu lạc bộ văn học Thành đoàn được sự hỗ trợ rất lớn từ các anh chị ở Hội Văn nghệ mà “chủ trì” là anh Nguyễn Khoa Điềm, anh Tô Nhuận Vỹ, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường... Trong các sinh hoạt văn học, những cây bút trẻ mạnh dạn thể hiện chính kiến của mình về mọi vấn đề. Có nhiều lần các diễn giả phải nổi cáu như lần anh em hỏi anh Hoàng Phủ Ngọc Tường một cách ráo riết rằng có phải anh chọn việc ngợi ca cỏ hoa, thiên nhiên xứ Huế để tránh vấn đề “chống tiêu cực” vốn là thế mạnh của thể ký? Anh Tường đỏ mặt tía tai “Tui bênh vực cái Đẹp, tôn vinh hoa cỏ cũng là một cách “chống tiêu cực” của riêng tui, vấn đề không thể cãi với các anh được”. Bầu không khí thật sự dân chủ những năm đầu đổi mới đã giúp chúng tôi học hỏi lẫn nhau, học hỏi thế hệ đi trước để tự nâng tác phẩm mình lên, để việc đứng trong hàng ngũ những kẻ viết không phải là việc “đứng cho đẹp đội hình” hoặc giả chuyện văn chương chỉ là chuyện chơi, bằng lòng với việc ngồi “tâng bốc lẫn nhau” một tấc đến trời... Tôi nghĩ không có tuổi trẻ nào mà không khát vọng làm mới văn chương nghệ thuật thế nhưng những năm tháng ấy chúng tôi như hợp thời cuộc, gặp “nhân duyên” - những người trẻ đầy ắp khát vọng gặp một thế hệ đàn anh tràn đầy nhiệt huyết, sẵn sàng “lắng nghe và thấu hiểu”, sẵn sàng chịu trách nhiệm khi đăng tải và “phát tán” những tác phẩm của chúng tôi ra cộng đồng, cộng với môi trường xã hội lúc ấy, nô nức trước trào lưu “đổi mới”... Những năm ấy, nhiều khi khát vọng của chúng tôi khiến nhiều người ngộ nhận là cắt đứt truyền thống, phủ nhận những người đi trước, kỳ thực - cũng như một thế hệ trước đó, tạm gọi là thế hệ “phong trào”, chúng tôi mong muốn đổi thay. Văn chương nghệ thuật mà không có gì gọi là mới thì còn gì là văn chương nghệ thuật. Một người bạn, giờ đã trôi dạt về phương Nam, mù tăm tin tức là Thiệp Đáng - người có những câu thơ hết sức ấn tượng như “những con bò mang guốc đi về phía cỏ non...”, “lá mọc trên đầu tôi hồi nửa đêm nguyên tiêu - từ đó tôi hoá nên một thực thể xanh biếc” (Bài “Lá” SH số 2 (41) - tháng 2,3/1900)... Rất nhiều năm sau, thời hậu câu lạc bộ văn học Thành đoàn vẫn viết với một cách thức mới mẻ như thế bằng sự xác tín mạnh mẽ về việc viết của mình... Mấy năm sau ngày Lê Viết Tường mất ở Bến Me, tôi về Đăk Lăk, ghé Sở Văn hoá, nơi Tường công tác, anh em chỉ về phía một góc cơ quan, còn lại mấy cái xoong nhôm sứt mẻ của vợ chồng Tường, một đống báo cũ nghe nói của vợ chồng thi sĩ dùng để dán bao bì đem bỏ chợ cho các bà nội trợ gói hàng... Xốn xang trong tôi một khúc hát về đường chân trời của tin yêu và khát vọng... Tôi về Nha Trang sau gần 25 năm hỏi thăm Trần Thị Kim Oanh thì mới biết Oanh có thâm niên mười mấy năm trong viện tâm thần “giờ có nhận ra được ông đâu, đến tên mình cô ấy còn không nhớ”.

Làm sao không nhớ những sáng Tịnh Tâm, những chiều Thiên Mụ, những đêm Lữ quán, nhà 22... Một chuyện riêng - tôi được anh chị em Thành đoàn tín nhiệm (có lẽ do đói kém nhất bọn) được mời dạy lớp Sao Khuê - lớp sáng tác văn học thiếu nhi của Nhà Thiếu nhi Huế sau anh Võ Quê, cô Ẩn. Chẳng biết các em tôi dạy, văn chương giờ tới đâu nhưng tôi tin các em sẽ lớn lên bằng những khát vọng làm đẹp cuộc sống này. Câu lạc bộ Văn học Thành đoàn sau lứa chúng tôi còn hoạt động một thời gian nữa, và có lẽ chính môi trường Huế có một lớp viết trẻ, sau này đứng được trong lòng bạn đọc dù viết báo hay viết văn như Phạm Xuân Hùng (Từ Dạ Thảo), Trần Tuấn, Lê Đức Dục, Minh Tự, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Ngô Thiên Thu, Lê Trung Việt, Phạm Nguyên Tường...

Lứa chúng tôi ngày ấy hẳn ai nấy đều sợ viết hồi ký bởi viết hồi ký là chấp nhận mình đã già. Mãi nhiều năm về sau và hiện tại chúng tôi vẫn thấy mình đương rất trẻ, ít nhất là trong những suy nghĩ về việc làm mới văn chương. Nhớ về những năm tháng ấy, tôi còn nhớ một đoạn thơ trong bài Mai có hòa bình của thi sĩ Ngô Kha được phổ nhạc, anh Lượng hát những lần gặp mặt anh em:

“...Tin em trao về hồng như nụ chín
Mai có hoà bình khác thể yêu đương
Đường dù ngại đi rừng chen lớp lớp
Nhớ nhau thì về cho kịp trời thu

Trời có tơ đan nắng hanh vườn cũ
Áo thô bạc màu hẹn buổi vinh quy
Chim vỗ cánh bay theo đàn tình tự
Xứ mẹ con về góp hội trùng tu”

Với tôi, nhiều khi khát vọng sáng tạo như cánh chim phượng hoàng huyền thoại vẫn đập cồn cào trong tàn tro để mong được tái sinh.


                                                P.T.Đ
                                          (267/5-11)

Nguồn: http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?main=newsdetail&pid=4&catid=18&ID=8023&shname=Nho-lai-mot-thoi

Chiều - thơ Nguyễn Văn Chức

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) góp ý (1)   

Chiều

Thân tặng cho tập thơ "Người câu bóng mình" của nhà thơ Võ Văn Luyến

alt

Chiều sắp cưới ngọn gió Nam

Gần thu nắng cũng điệu đàng tận đâu,

Duyên trời cởi áo treo cầu

Tình ai khuất nẻo,

Người câu bóng mình ....!

        

             Nguyễn Văn Chức

 

comment

Bóng tròn
bóng khuyết lặng thinh
khuyết, tròn chỉ một bóng mình nhớ quên.

                       VVL

 

Thành cổ Quảng Trị - Chứng tích một thời máu lửa - Nhà giáo Phan Đệ (ĐH PHÚ YÊN)

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

Thành Cổ Quảng Trị - Chứng tích

                         một thời máu lửa

 

Sáng 01/5/2011, Đoàn CCB Trường ĐH Phú Yên được anh Võ Văn Luyến, Phụ trách QLNCKH Trường CĐSP Quảng Trị mời đi uống cà phê. Anh Luyến là bạn thân của anh Tâm, Chủ tịch Hội. Anh hát tặng chúng tôi bài “Khe Sanh giấc mơ cao xanh” do anh phổ nhạc từ bài thơ vừa sáng tác.

Anh mời chúng tôi ở lại Đông Hà dự  buổi ra mắt tập thơ “Bên kia tít tắp đại dương” của nhà giáo, nhà thơ Võ Thị Như Mai, sinh năm 1976, quê Quảng Trị, hiện đang sống và dạy học ở Tây Úc nhưng chúng tôi đã có kế hoạch trước nên không thể ở lại. Chia tay anh Luyến, chúng tôi rời TP Đông Hà “hành quân” vào TX Quảng Trị. TX Quảng Trị nằm phía nam sông Thạch Hãn, cách Đông Hà khoảng 15 km. Với lịch sử gần 200 năm, trải bao thăng trầm, tách nhập, thay tên đổi họ, TX Quảng Trị ngày nay đang đi lên cùng đất nước. Trước khi vào viếng thăm Thành Cổ, chúng tôi ghé thăm dòng sông Thạch Hãn. Bờ nam sông  là đường phố mới mở, vài quán cà phê giải khát đã kịp mọc lên. Bến đò nơi ngày trước bộ đội ta thường vượt sông vào đánh  chiếm Thành Cổ được chính quyền và nhân dân xây dựng nhà tưởng niệm uy nghi, hoành tráng. Mùa này, nước sông trong xanh, trôi lững lờ như một dải lụa.  Nhìn dòng sông êm dịu, hiền hoà, không ai có thể hình dung nổi nếu không đọc lịch sử, rằng chính nơi đây một thời không xa, máu của những người con đất Việt đã nhuộm đỏ dòng sông này. Dòng sông đang ôm ấp, vỗ về hàng ngàn linh hồn những người con đã hy sinh vì sự nghiệp thống nhất  đất nước:

" Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm"...

( CCB Lê Bá Dương )

alt

Bên bờ nam sông Thạch Hãn, sáng 01/5/2011

 Chúng tôi vào thăm Thành Cổ. Thành là thủ phủ của chính quyền tỉnh Quảng Trị trong các triều đại từ nhà Nguyễn đến ngày 30/4/1975. Thành Cổ hình vuông, diện tích khoảng 16 ha, đã trở thành chứng tích lịch sử của một thời máu lửa. Nơi đây, năm 1972 đã diễn ra  trận đụng đầu lịch sử 81 ngày đêm giữa 2 lực lượng đại diện cho ý chí của hai bên. Đã có nhiều sách báo, tài liệu viết về Thành cổ.

alt

Đoàn CCB chuẩn bị dâng hương tại Đài tưởng niệm.

 Bước vào cổng, chúng tôi được nhân viên lễ tân đón tiếp chu đáo, hướng dẫn làm thủ tục viếng và tưởng niệm những người đã khuất. Từ cổng chính phía tây đi thẳng lên Đài tưởng niệm, hai bên là các ô cỏ vuông vắn, xanh mượt. Chúng tôi đi nhè nhẹ, nói khe khẽ, bởi  dưới cỏ non xanh kia là xương máu của hàng ngàn con người đã ngã xuống . Chúng tôi nghe âm hưởng lời ca “ Cỏ non Thành Cổ” của cố nhạc sỹ Tân Huyền:

…”Cỏ non Thành cổ
một màu xanh non tơ

Bình minh Thành cổ
cỏ mềm theo gió đung đưa

Cỏ non Thành cổ, một màu xanh non tơ

Nào có ai ngờ nơi đây một thời máu đổ
Người vợ nào, người mẹ nào ngậm ngùi nuốt lệ

khi chồng con không trở về ...

Cho tôi hôm nay vào Thành cổ
thắp một nén nhang viếng người nằm dưới cỏ
Cỏ xanh non tơ, cỏ xanh non tơ xin chớ vô tình
với người hy sinh trên mảnh đất quê mình”…

alt

Chụp ảnh lưu niệm dưới chân Đài tưởng niệm

Sau khi đặt vòng hoa, dâng hương tại Đài tưởng niệm, chúng tôi vào thăm nhà bảo tàng. Với những hiện vật, tài liệu, tranh ảnh tái hiện lại cuộc đụng đầu lịch sử, chúng tôi rất xúc động trước sự hy sinh to lớn của đồng bào, đồng đội đã ngã xuống trên mảnh đất lịch sử này.

 alt

Cụm tượng đài: phút nghỉ ngơi giữa hai trận đánh...

Đặc biệt là bức thư của một người lính gửi cho vợ ở hậu phương miền Bắc, viết giữa hai trận đánh. Sau đó không lâu anh đã ngã xuống giữa dòng Thạch Hãn, thi thể anh theo dòng nước trôi về hạ lưu và được chôn cất ở ven sông.  Điều ngạc nhiên là, trong thư anh dặn, sau này đất nước thống nhất, vợ anh hãy đến nơi anh đang yên nghỉ để đón anh về với những chỉ dẫn rất chi tiết và chính xác. Sự linh cảm, linh thiêng không thể giải thích được bằng khoa học. Cầu mong linh hồn  các anh chị được siêu thoát, yên giấc ngàn thu giữa lòng đất mẹ yêu thương và hãy phù hộ cho đồng bào, đồng đội, cho đất nước chúng ta được vĩnh viễn thanh bình và hạnh phúc.

alt

Xem các hiện vật, tư liệu, hình ảnh trong Bảo tàng Thành cổ.

alt

Cựu Chiến binh Nguyễn Văn Ngọc bên khẩu 12,7ly trong Nhà bảo tàng.

alt

 alt

Sau khi chụp ảnh lưu niệm với cô hướng dẫn viên xinh đẹp, chúng tôi rời Thành Cổ và  ghé thăm nhà anh Tâm, Chủ tịch Hội.

alt

Chủ tịch Hội Nguyễn Văn Tâm về thăm nhà.

Quê anh ở Triệu Phong, đồng hương rất gần với Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn. Nhà anh cách TX Quảng Trị khoảng 10 km. Nghe anh kể, hồi còn học phổ thông, anh phải đi bộ từ nhà đến trường, mùa mưa lầy lội chỉ mặc có quần xà lỏn, đi chân đất. Nay quê hương Triệu Phong đã đổi mới nhiều lắm, anh cũng đã trở thành giảng viên đại học. Ngôi nhà nơi anh cất tiếng khóc chào đời giờ trở thành nơi thờ cúng của gia đình, bởi ba má anh đã đi xa, các anh chị em đã có gia đình riêng, nhà cửa khang trang, bề thế, vợ con anh đang ở TP Tuy Hòa. Ăn bữa cơm tại nhà anh cùng với người thân của anh, chúng tôi càng cảm nhận sâu sắc tình quê hương, làng xóm.

Chia tay gia đình Chủ tịch Hội, chúng tôi hành quân vào Huế để kịp dự Fettival Huế 2011 với chủ đề

 Thay lời kết: 

Chặng cuối cuộc hành quân về nguồn với chủ đề “Nghĩa tình đồng đội”, chúng tôi còn ghé Sơn Tịnh thăm Khu chứng tích Sơn Mỹ, ghé Đức Phổ thăm Bệnh xá Đặng Thuỳ Trâm ( Quảng Ngãi )... Chuyến đi đã để lại nhiều tình cảm sâu nặng trong lòng mỗi cựu chiến binh. Tuy có mệt mỏi vì thời tiết và tuổi tác, có tốn kém kinh phí nhưng điều được lớn nhất đó là nghĩa tình đồng đội, là lòng cảm phục trước sự hy sinh to lớn của nhân dân ta, dân tộc ta, trong đó có những đồng đội cùng thế hệ của tôi, để dất nước hôm nay được hoà bình, thống nhất. Chúng tôi quyết tâm phấn đấu để tiếp tục đóng góp sức lực của mình vào sự phồn vinh của đất nước, sự lớn mạnh của Trường Đại học Phú Yên. Xin cảm ơn lãnh đạo nhà trường và các đơn vị đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để chuyến đi thành công. Hy vọng Hội CCB và các Hội khác của nhà trường sẽ có nhiều chuyến đi đầy ý nghĩa.

                                      Bài và ảnh: Phan Đệ

Nhớ cha, mùa lũ - thơ võ văn luyến

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

NHỚ CHA, MÙA LŨ

 alt

Thuở nhỏ, mê tiếng ểnh ương tìm chỗ lội

Nghe xôn xao lũ cá theo nước lên đồng

Nhớ cha không biết bơi vác rớ đi vòng

Chuyện đời, đau lắm! Người đi vội.

 

                                           1999

                                            VVL

Rượu ướt chiều ly biệt - HÙNG...super race

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) góp ý (3)   

Vì lý do sk nên tạm kiêng rượu (và bia) ít bữa. Bạn bè gọi mời cứ ấm ứ rằng thì là...Thế mới hay "Người đi mất hút trắng thềm tương tư". Thôi thì, xin phép mượn bài của bạn thơ chưa tương kiến nhưng tương phùng qua bài thơ này vậy.

 alt

RƯỢU ƯỚT CHIỀU LY BIỆT

Thôi
Về uống rượu làng thôi
Uống cho say lã ba hồi bốn chương
Bóng người chìm cõi khói sương
Ta quờ tay-Trống...-thiên hương nhạt chiều...

Ly này,
ly nữa,...đìu hiu
Chiêm bao rơi vỡ giáo điều nhân gian
Thú hoang gầm xé rừng hoang
Rượu hoang như nước tắm hoàng hôn say...

Uống đi,
Chén cạn,chén đầy
Trượng phu chi nữa - sa lầy mỹ nhân
Trời xa níu xuống đất gần
Tấm da chiến mã - Tấm thân ba đào...


Uống đi,
đắng rượu ngọt ngào
Mà nghe phế tích toạc vào mắt đêm
Mà nghe xiêm áo rũ mềm
Người đi mất hút trắng thềm tương tư...

Ừ, thì có lỡ say nhừ
Cũng qua một giấc vô ưu đấy mà.
Ừ, thì có lỡ ngả ra
Coi như trót nhớ xa hoa một người.
Ừ, thì có lỡ tàn đời
Cũng đành chết dí bên trời...mù sa.

                      
  (HÙNG...super race)

                                          Nguồn Internet

Cẩm nang 2011

Tài nguyên Trackbacks (0) góp ý (2)   

 

CẨM NANG 2011

alt

Health / Sức khỏe:

1. *Uống nhiều nước.** *

2. *Ăn sáng giống như vua, ăn trưa giống như ông hoàng và ăn tối giống như kẻ ăn xin. ***

3. *Ăn nhiều thức ăn mọc trên cây và ăn ít thức ăn được chế tạo trong nhà máy. ***

4. *Sống với 3 N – Năng lực, Nhiệt thành và Nhân ái** *

5. *Tìm ra thì giờ mà cầu nguyện.***

6. *Chơi trò chơi nhiều hơn. ***

7. *Đọc nhiều sách hơn năm 2010.** *

8. *Ngồi yên lặng ít nhất 10 phút mỗi ngày. ***

9. *Ngủ 7 giờ. ***

10. *Đi bộ từ 10-30 phút mỗi ngày. Và mỉm cười trong khi bước đi. ***

Nhân cách:

11. *Đừng so sánh cuộc đời của bạn với cuộc đời của những người
khác. Bạn không biết cuộc hành trình của họ như thế nào đâu. ***

12. *Đừng có những tư tưởng tiêu cực hoặc có những thứ mà bạn không thể làm chủ. Thay vào đó, hãy đầu tư năng lực của bạn vào khoảnh khắc hiện tại tích cực. ***

13.  *Đừng làm quá mức. Giữ giới hạn của bạn. ***

14. *Đừng quá coi trọng bản thân bạn. Không ai để ý bạn ‎đâu. ***

15.  *Đừng phí năng lực quý ‎báu vào chuyện ngồi lê đôi mách. ***

16. *Hãy mơ nhiều hơn khi bạn còn đang thức. ***

17. *Ghen tỵ là phí thì giờ. Bạn đã có tất cả những gì bạn cần rồi. ***

18.  *Hãy quên đi những chuyện quá khứ. Đừng nhắc cho vợ/chồng của bạn nhớ lại những lỗi lầm của họ trong quá khứ. Việc này sẽ làm hỏng hạnh phúc hiện tại của bạn. ***

19. *Cuộc sống quá ngắn để mà phí thì giờ vào việc ghét người nào. Đừng ghét những người khác. ***

20. *Hãy làm hòa với quá khứ của bạn để nó không làm hỏng hiện tại. ***

21. *Không ai lãnh trách nhiệm về hạnh phúc của bạn ngoài bạn. ***

22. *Hãy nhận thức rằng cuộc đời là một trường học và bạn ở đây là để học. Các bài toán chỉ là một phần của học trình, xuất hiện rồi phai mờ đi giống như lớp đại số, nhưng các
bài học bạn học được thì sẽ kéo dài suốt đời...** *

23.  *Mỉm cười và cười nhiều hơn.** *

24. *Bạn không buộc phải thắng mọi điểm đâu. Hãy đồng ‎ ý với việc không đồng ý.** *

 Xã hội:

25. *Hãy thăm viếng gia đình bạn thường xuyên. ***

26. *Mỗi ngày, hãy mang lại điều gì tốt cho người khác..** *
27. *Hãy tha thứ cho mọi người về mọi sự.** *

28.  *Hãy dành thì giờ cho những người ngoài 70 và dưới 6 tuổi. ***

29.  *Hãy cố gắng làm cho ít ra 3 người mỉm cười mỗi ngày. ** -  *Không cần biết những điều người khác nghĩ về bạn** *

31.  *Việc làm của bạn sẽ không săn sóc bạn khi bạn đau ốm đâu. Bạn bè mới làm việc ấy. Hãy liên lạc với nhau luôn.** *

 Đời sống:

32. *Hãy làm chuyện đúng!** *

33.  *Loại bỏ bất cứ thứ gì không ích lợi, không đẹp hoặc không vui.** *

34.  *Trời chữa lành mọi sự…** *

35.  *Cho dù một hoàn cảnh tốt hay xấu, nó sẽ thay đổi.** *

36. *Mặc cho bạn có cảm thấy thế nào, hãy ra khỏi giường, chưng diện lên và khoe thiên hạ.** *

37.  *Điều tốt nhất sẽ đến.***

38 - *Mỗi sáng thức dậy mà còn sống, hãy cám ơn TRỜI về điều ấy.***

39.  *Thâm tâm bạn luôn luôn hạnh phúc. Thế thì, hãy sống hạnh phúc đi...*

 

CỨ THẾ

Để đời luôn hạnh phúc, cần thanh tẩy mỗi ngày
Sống là thanh tẩy. Có bao nhiêu ngày để sống, thì cũng có bấy nhiêu ngày để thanh tẩy.
Muốn bản thân và gia đình hạnh phúc, hãy:

THANH TẨY

- Những tư tưởng và lời nói xấu, bằng những suy nghĩ và lời tốt đẹp.

- Những vất vả và lo toan, bằng hăng say làm việc và hành động.

- Những gian nan và thử thách, bằng đời sống kiên trì và nhẫn nại.

- Những đau khổ và bất hạnh, bằng đời sống vui tươi và phấn khởi.

- Những kiêu căng và tự phụ, bằng đời sống khiêm tốn và hoà nhã.

- Những chè chén say sưa, bằng đời sống tiết độ và chừng mực.

- Những cục cằn và nóng giận, bằng đời sống từ tốn và hiền từ.

- Những khép kín và sợ sệt, bằng đời sống cởi mở và tự tin.

- Những thô lỗ và tục tằn, bằng đời sống nhã nhặn và lịch sự.

- Những ghen tương, cố chấp, bằng đời sống ngoan ngoãn, vâng phục.

- Những nông nổi và bồng bộ, bằng đời sống chín chắn và thận trọng.

- Những cẩu thả và giả dối, bằng đời sống cẩn thận và thật thà.

- Những lười biếng và hèn nhát, bằng đời sống siêng năng và can đảm.

- Những ù lì và dựa dẫm, bằng đời sống hoạt bát và tự lập.

- Những trả oán và báo thù, bằng đời sống đền ơn và tha thứ.

- Những nghi ngờ và hiểu lầm, bằng đời sống tin tưởng và cảm thông.

- Những tranh chấp và bất hoà, bằng đời sống yêu thương và hiệp nhất.

- Những khô khan và nguội lạnh, bằng đời sống tích cực, nhiệt thành.

- Những xét đoán và lên án, bằng đời sống tha thứ và bao dung.

- Những kỳ thị và bè phái, bằng tinh thần đón nhận và hợp tác.

- Những ghen ghét và so đo, bằng đời sống yêu thương và quảng đại.

- Những bất trung và bất hiếu, bằng đời sống trung tín và hiếu thảo.

- Những giả tạo và môi mép, bằng đời sống chân thành và thật lòng.

- Những đối phó và tránh né, bằng đời sống đáp ứng và tự nguyện.

- Những thu gom và vơ vét, bằng đời sống chia sẻ và hy sinh.

- Những coi thường và khinh rẻ, bằng đời sống trân trọng và kính yêu.

- Những chia rẽ và phá huỷ, bằng tinh thần xây dựng và đoàn kết.

- Những gian dối và bất công, bằng đời sống công bằng và thật thà.

- Những thất bại và lỡ lầm, bằng đời sống vươn lên và phục thiện.

- Thanh tẩy đi, thanh tẩy nhiều thứ lắm…

Cuộc sống là một chuỗi những phấn đấu và vượt qua. Hãy thanh tẩy đi mọi thứ, mọi điều có thể làm cho đời ta, gia đình ta trở nên u ám và đen tối, bất hạnh và đau khổ. Những ân sủng Trời ban cho là thời gian, vật chất, sức khoẻ, khả năng, người thân… Hãy trân trọng, quý mến chứ đừng hoang phí, tận dụng chứ đừng lạm dụng hoặc coi thường. Hãy luôn coi đó là những nén bạc quý, là những cơ hội tốt để phát huy bản thân cho tốt đẹp mọi bề.

Thanh tẩy mà. Thanh tẩy nhiều thì sạch nhiều, thanh tẩy ít thì sạch ít.

Hãy phấn đấu để thoát ra khỏi dòng thác của hưởng thụ, tự tôn và ích kỷ, để ta có một cuộc sống hạnh phúc. Tất cả tuỳ thuộc vào lựa chọn và quyết định của ta. 

Hôm nay ta, gia đình ta thế nào, là do chọn lựa và quyết định của ta hôm qua ra sao. Tương lai của ta, gia đình ta ra sao, tuỳ thuộc vào lựa chọn và quyết định của ta hôm nay thế nào. 

 

                                                                                                        Nguồn Internet

Thơ Trương Lan Anh

Tác phẩm bạn Văn Trackbacks (0) góp ý (2)   

 

THƠ TRƯƠNG LAN ANH

Như mật nắng rót xuống tay lá, sóng sánh ngày lên và yêu thương rực cháy yếm thắm bên trời. Không hiểu sao, đọc thơ chị, tôi như nghe con tim đang hát. Tiếng hát của con sóng ru vỗ những xưa sau thấp thoáng hình bóng dịu dàng đính lên khung trời kỷ niệm. Dường như, ngay cả mênh mang nguyên cớ, cũng tụ kết và quay về thầm thỉ, bọc kén thanh xuân trong thơ chị...

alt

TỰ TÌNH



Tự tình với gió đêm nay


Dạ hương thơm nức ngất say lòng người


Nghe trong tiếng lá reo cười


Giọt sương buông lặng những lời chia tay.




Tự tình với gió đêm nay


Trăng về gối bóng liễu say giấc nồng


Tóc tơ mấy ngón xỏa buông


Lơ thơ đêm gội giọt sương ướt dầm.




Tự tình lắng ngọn gió xuân


Em về neo giữa búp mầm sinh sôi


Nghe trong hương gió hoa ơi


Đêm nay
vọng tiếng xuân thời giục ta!


 

Níu

 

Mỏ neo níu những con tàu


Hoàng hôn níu những nỗi đau ở đời


Vầng trăng  níu sự đơn côi


Mắt xa níu chặt đời tôi với Nàng 

 

 

SỢI THƯƠNG!



Mây trôi nỗi nhớ vắt ngang


Cho Đông chút nắng xênh xang trở về


Nắng giăng mắc sợi đê mê


Em sang bên ấy nắng về theo em


Vai mềm  mười sợi nắng lên


Mặt trời từ trái tim em đỏ hồng!

 

                    TRƯƠNG LAN ANH

Chùm thơ về Gio Linh - thơ Võ Văn Hoa

Thơ Trackbacks (0) góp ý (2)   

Thơ viết về Gio Linh:

 

 alt

Nhà thơ Võ Văn Hoa (bên trái) - Nhạc sĩ Lê Đàn


NGƯỜI GIỮ LỬA

 

Ngày chiến tranh

Nghe bài hát “ Bà mẹ Gio Linh”* cháy bỏng

Những trái tim khát vọng

Thét gào trong tôi!

*

Người giữ lửa đi rồi

Quán cơm xã hội đường Gia Long bờ Nam sông Thạch Hãn xa rồi

Bạn lên bưng kháng chiến

Đỏ lửa mùa hè

*

Ngày hòa bình

Tôi tìm về quê bạn

Áo thương binh sờn màu

Bạn thân tình mời mít thấu*, cơm rau…

*

Vôi chợ Cầu chưa thắm trầu cau

Chuyện vợ con đợi khi mô khá giả

Đất quê nhà cần bàn tay phục hóa

Rà phá bom mìn…

*

Ơi Gio Linh

Xanh biếc trong tôi

        Người giữ lửa !

 

 

                       VÕ VĂN HOA

 

*: Tên bài hát của Phạm Duy

**: Món ăn đặc sản thơm ngon ở Gio Linh

 

 

 

 

 

 

 

HAI NGÀY VỚI TÂY GIO LINH

 

                          Thân tặng Trần Bình

 

 

Giếng mội và cây rau Liệt

Một sớm tôi về Hảo Sơn

Xứ sở ong ong hồn đá

Màu trời như thể trong hơn!

*

Gia Bình cây đa thuở ấy

An Nha thơ bạn* đêm ngày

Ly này, nâng thêm ly nữa

Mừng đất quê nhà đổi thay!

*

Con đường 75 rộng mở

Hà Thượng còn đó đập tràn

Lá phổi Gio Linh. Hoa nở

Hẹn một ngày mai mùa vàng!

*

Cồn Tiên thức cùng Nam Đông

Cháu tôi vừa đi lấy chồng

Hai ngày chân quen quê bạn

Tơ trời dệt lụa tầng không

*

Giờ vẫn nhớ hoài nước mội

Vơi đầy rồi lại đầy vơi!

Mới hay thơ về nguồn cội

Theo ta đi suốt cuộc đời!

 

                       Võ Văn Hoa

 

* Trần Bình: Tác giả CHIÊM BÁI QUÊ NHÀ (tập thơ)

Design by JuliettaRose Studio. Powered by Vnweblogs